| Tác giả |
Nội dung |
administrator
Quản trị
Online:
Bài viết: 1046
Gia nhập: 29/4/2006
Giới tính: Nam  Ngân quỹ: 1767 Lượng
Nhà đầu tư kinh nghiệm
|
Chủ đề: Các vấn đề vĩ mô Gửi: 24/03/2008 lúc 21:45 Th.báo nội dung xấu | Bình chọn bài viết |
Trước
khi theo đuổi bất kỳ một điều gì, tôi muốn biết chính xác cái mà tôi
đang dấn thân vào. Giống như giao dịch. Chúng ta nghe nói về lợi ích và tại sao chúng ta nên “giao dịch tin tức”, nhưng điều quan trọng là bạn nên biết về những rủi ro có thể gặp phải. Giao dịch rủi ro mà bạn gặp phải
Sự trượt giá
Mức
biến động giá của thị trường có thể tăng về phương diện hình học trong
những bản tin đã đưa, có nghĩa là giá có thể có những xê dịch nhỏ từ 5
pip đến 20 pip (hoặc thậm chí là lên đến 50 pip và có thể cao hơn so
với những bản tin chính thức được đưa ra) trong khoảng vài giây. Nếu
bạn cố gắng đặt lệnh trong thời điểm không ổn định này, có thể có được
một giá khác xa so với kỳ vọng của mình. Đây là một điều đặc biệt mạo
hiểm với những lệnh giới hạn.
Chẳng
hạn, đã có lần, tôi đã đặt lệnh với một nhà môi giới (khoảng cách giữa
giá mua và giá bán là cố định và an toàn, nhưng chưa thực hiện) 15 phút
trước khi bản tin chính thức được đưa ra về tỷ giá của EUR/USD. Ngay
trước khi bản tin đưa ra, giá thị trường là 1.2320. Tôi đặt lệnh giới
hạn để mua ở tỷ giá 1.2360, với mức lợi nhuận của 1.2383. Cái tin đưa
ra có ảnh hưởng xấu đối với đồng dollar Mỹ, điều này có thể làm giá thị
trường đẩy lên 80 pip ngay khi nó được đưa ra. Lệnh mua của tôi được
thực hiện, nhưng không may, giá thị trường là 1.2390 – 30 pips trên giá
giới hạn tôi đặt ra! Sau khi thị trường ổn định trong chốc lát, giá mục
tiêu lợi nhuận của tôi được thực hiện ở mức thua lỗ bởi vì giá thị
trường ở dưới mức giá mà tôi đặt. May mắn thay, tôi chỉ lỗ 7 pip, nhưng
đó là một bài học đáng giá.
Giới hạn lệnh
Một
vài nhà môi giới đã ngăn ngừa những lệnh giới hạn và lệnh thị trường
ngay trước khi bản tin chính thức được đưa ra (khoảng 30 phút cho đến 1
giờ trước đó). Điều này thường xảy ra với những nhà môi giới đảm bảo
điểm spread không đổi . Nguyên nhân căn bản mà sự giao
dịch của bạn “đi ngược” không phải là vì sàn giao dịch bị lỗi, mà là vì
khoảng cách giữa giá mua và giá bán quá rộng và nếu những nhà môi giới
đặt chúng với khoảng cách cố định, họ sẽ mất tiền.
Mức biến động giá / Bùng nổ
Trong
thời gian những báo cáo tin tức và bản tin kinh tế đưa ra, thị trường
có thể dao động từ 20 đến 50 pip trong một giây! Sự biến động của tin
tức có thể rất nguy hiểm, thậm chí là đối với cả những nhà giao dịch
giàu kinh nghiệm. Có thể bạn nắm bắt được sự dịch chuyển mạnh lúc ban
đầu, nhưng giống như rất nhiều lần trong tình huống này, nó có thể đẩy
bạn vào một giao dịch thua lỗ trong rất nhanh.
Khoảng cách giữa giá mua và giá bán - Spread
Một
số môi giới có thể bảo đảm sự thực hiện nhưng không bảo đảm những những
khoảng cách giữa giá mua và giá bán, và trong thời gian những sự kiện
tin tức được đưa ra, bạn sẽ thấy những khoảng
cách này rộng đáng kể (Tôi đã thấy một khoảng cách 3 pip trở thành một
khoảng cách là 14 pip trong một báo cáo). Nếu bạn muốn có lợi nhuận từ
5 đến 10 pip, điều này sẽ làm hại đến những cơ hội có lãi và có lẽ sẽ
làm bạn giao dịch lở trạng thái lỗ tiềm năng.
Những phương pháp giao dịch tin tức
Straddle
Chiến
lược straddle thật sự dễ dàng thiết lập nhưng đòi hỏi phải có một chút
tư duy, nhưng có lẽ đây là phương pháp giao dịch rủi ro nhất dựa trên
tin tức. Để thiết lập một chiến lược straddle, về cơ bản bạn phải đặt
một lệnh giới hạn để mua một vài pip trên mức giá thị trường trước khi
một bản tin được đưa ra, và đặt một lệnh giới hạn để bán vài pip dưới
mức giá thị trường. Nếu bản tin này đủ tạo ra sự biến động giá thì lệnh
của bạn sẽ tự động được tiến hành, sự dừng lại và mức lợi nhuận của bạn
cũng sẽ tự động thực hiện nếu phù hợp. Đơn giản chỉ vậy thôi.
Xin
nhắc lại, nghe có vẻ dễ dàng, nhưng phải rất thận trọng với phương pháp
này vì cả lệnh mua lẫn lệnh bán đều có thể cùng được thực hiện, và nếu
những mục tiêu lợi nhuận và sự dừng lại không đúng lúc, bạn có thể bị
lỗ tối đa trên cả hai lệnh. Đồng thời, bạn cũng gặp những rủi ro vốn có
của sự trượt giá.
“Giao dịch những con số”
Đây
dường như là một phương pháp được ưa chuộng hơn, ở đây thì bạn phải xác
định rõ báo cáo tin tức có giá trị giao dịch trong tất cả hay không –
ít rủi ro hơn so với straddle.
Trước
tiên, bạn phải xác định được tầm quan trọng của những bản tin được đưa
ra. Không phải mọi bài báo đều có thể giao dịch được; hoặc nó không gây
ra một sự khuấy động trên thị trường, hoặc sự biến động giá ban đầu là
quá điên rồ, quá nguy hiểm để tiến hành một giao dịch.
Hãy
hỏi chính bản thân bạn môi trường gần đây của thị trường là gì. Nói
cách khác, cái gì đang ảnh hưởng đến thị trường trong thời gian gần đây?
Chẳng
hạn, có thể Dự trữ liên bang có liên quan đến lạm phát. Trong tình
huống này, bất kỳ dữ liệu nào liên quan đến lạm phát (chỉ số giá tiêu
dùng, Những gợi ý trong chính sách tiền tệ tương lai) có thể được giám
sát chặt chẽ bởi Liên bang – cái mà Liên bang đang theo dõi, những nhà
giao dịch đang theo dõi. Bất cứ một bản tin nào về việc này đều có thể
là những cơ hội tốt để giao dịch, miễn là bạn ý thức được những rủi ro
xung quanh.
Bước
thứ hai là để theo dõi những tin tức được đưa ra và thấy phải chăng con
số báo cáo hoặc con số kinh tế được đưa ra là nội tuyến(inline) với cái
mà thị trường đang trông đợi. Dĩ nhiên, nếu bào cáo này hoặc con số này
là hay và/hoặc một sự ngạc nhiên tốt lành cho một nước, khi đó bạn có thể tiến hành mua đồng tiền nước đó và ngược lại.
Chẳng
hạn, trong báo cáo tiếp theo của Mỹ về việc làm, thị trường đã trông
đợi 200K việc làm mới, và con số vượt thực tế ra là 300K. Thật là ngạc
nhiên, và nhiều việc làm có dấu hiệu mạnh mẽ và phát triển ở Mỹ. Bạn có
thể đặt mua ngay khi báo cáo được đưa ra và hy vọng sẽ nắm bắt được một
phần của chuyển động. Nếu báo cáo này đúng như được trông đợi, khi đó
có thể sẽ không có giao dịch.
Tóm tắt
Thật
là nhiều và thật là ….. dễ dàng ??? Ôi không !! Có lẽ là ban đầu là
không. Bạn sẽ phải luyện tập và giao dịch trên nhiều bài báo cáo khác
nhau trước khi bạn cảm nhận được những bản tin mà nó có thể làm chuyển
dịch thị trường, cái giá của một sự bất ngờ để làm thị trường biến động
mà những bản tin lại né tránh. Giống như trong bất kỳ phương pháp giao
dịch khác, sự thành công tuỳ thuộc vào sự chuẩn bị và sự tự tin trong
cách thức của bạn. Điều này sẽ cần thời gian và sự luyện tập. Hãy làm
một ít bài thực tập và nghiên cứu những chỉ dẫn kinh tế để thấy được
tầm quan trọng của nó. Không thứ gì đáng giá mà có được một cách dễ
dàng, hãy theo đuổi nó bạn sẽ tìm được những báo cáo tin tức giao dịch
bổ ích.
(Maxi-Forex.com lược dịch từ babypips.com)
|
|
|
|
Số vàng tặng cho bài viết này (cho điểm) : 0 Lượng
|
|
hoa phu
Thành viên tích cực
Online:
Bài viết: 475
Gia nhập: 16/3/2008
Giới tính: Nam  Ngân quỹ: 207 Lượng
Nhà đầu tư mới
|
Gửi: 08/07/2008 lúc 06:31 Th.báo nội dung xấu | Bình chọn bài viết |
|
Giang Lê -- 06, 2008 --
“Unfortunately, it seems there’s little policymakers can do about this [prevent the UK economy going into a recession and having high inflation at the same time].” Dominic White – ABN AMRO, 05/06/2008. (“Không may, có vẻ như những nhà hoạch định chính sách khó có thể làm gì để cứu vãn tình thế này [chống lại việc nền kinh tế Anh quốc vừa rơi vào một cuộc khủng hoảng vừa bị lạm phát cao].” Dominic White – Ngân hàng ABN AMRO, 05/06/2008).
“Bernanke also knows, the same forces of uncertainty [in the financial market] that lead to a recession also render policy-makers relatively powerless to prevent it. … So the current situation is a perfect storm – a huge surge in uncertainty that is not only generating a rapid slowdown in activity but also limiting the effectiveness of standard monetary and fiscal policy to prevent this.” Nicolas Bloom – Stanford University, 04/06/2008. (Ông Bernanke cũng biết rằng, chính tình trạng bất an [trong thị trường tài chính] mà là lực đẩy của một cuộc suy thoái kinh tế cũng là nguyên nhân làm cho các nhà hoạch định chính sách mất hết khả năng chống lại cuộc suy thoái đó. …. Vì vậy tình hình hiện tại như là một cơn bão hoàn hảo (không thể chống được) – với một sự tăng lên đột biến của tình trạng bất an không những tạo ra một cuộc suy giảm các hoạt động kinh tế một cách quá nhanh mà còn hạn chế tính hiệu quả của các chính sách tiền tệ và tài khóa được đưa ra để ngăn chặn nó.” Nicolas Bloom – Đại học Stanford, 04/06/2008)
Tôi không có ý định so sánh tình trạng kinh tế hiện thời của Việt nam với Anh và Mỹ, và cũng không muốn so sánh năng lực cũng như tiềm lực (resources) của NHNN với Bank of England hay FED vào thời điểm này. Với hai trích dẫn trên tôi chỉ muốn đưa ra dẫn chứng rằng có những thời điểm các nhà hoạch định chính sách không thể ngăn chặn được một chu kỳ kinh tế (business cycle) bất lợi cho đất nước mình. Ở các nước với nền kinh tế thị trường phát triển, giới doanh nghiệp và học giả kinh tế hiểu được điều này. “Đừng chống lại chu kỳ kinh tế” (Don’t fight a business cycle) được hiểu một cách rộng rãi như một qui tắc khôn ngoan cho cả doanh nghiệp lẫn các nhà hoạch định chính sách.
Nói như vậy không có nghĩa là tôi bênh vực cho NHNN và Chính phủ Việt nam đã không có những sai lầm về mặt chính sách trong quá khứ dẫn đến tình trạng kinh tế vĩ mô tồi tệ hiện tại. Ngay cả “ông phù thủy” Alan Greenspan, người đã từng được cả thế giới tài chính tôn sùng như một nhà kinh tế và hoạch định chính sách vĩ đại nhất trong lịch sử, cũng đang bị chỉ trích về chính sách tiền tệ sai lầm trong thời kỳ 2002-2003. Nhiều người cho rằng việc Greenspan đã giữ lãi suất thấp quá lâu sau sự kiên 9/11 là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc khủng hoảng cho vay bất động sản dưới chuẩn (subprime mortgage crisis) hiện tại. Với tôi, nền kinh tế Việt nam từ đầu năm 2008 đang trải qua một “cuộc hạ cánh đầy bất trắc” (hard landing) sau thời kỳ phát triển quá nóng. Đáng tiếc là những phi công của nền kinh tế (NHNN và Chính phủ) đã lái chiếc máy bay của mình quá cao và quá nhanh rồi đến lúc gặp thời tiết bất ổn đã đạp phanh quá gấp. Khách quan mà nói, sự non nớt của các vị phi công này là một nguyên nhân quan trọng, nhưng đằng sau cuộc “hạ cánh đầy bất trắc” này là những những qui luật tất yếu của chu kỳ kinh tế.
Nguyên nhân lạm phát
Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Đông Nam Á 1997-1998 đã làm kinh tế Việt nam tăng trưởng chậm lại đáng kể (dưới 5% trong giai đoạn 1998-2002 so với 7-9% trước đó) và lạm phát cũng sụt giảm nhanh chóng (gần 0% trong năm 2000). Điều này hoàn toàn phù hợp với lý thuyết kinh tế (nguyên lý đường cong Phillips). Liệu pháp cổ điển chống lại tình trạng này là nới lỏng chính sách tiền tệ và kích cầu bằng chính sách tài khóa mở rộng. Chính phủ Việt nam, tuy có chậm, nhưng đã thực thi giải pháp này trong giai đoạn 2002-2007 với kết quả là nền kinh tế đã tăng trưởng trở lại và lạm phát cũng quay trở lại. Diễn tiến kinh tế Việt nam trong giai đoạn 1998-2007 là một chu kỳ kinh tế điển hình và những chính sách kinh tế đã được thực thi có thể coi là chính sách chuẩn (textbook policies) mà các nước khác về cơ bản cũng sẽ làm như vậy trong một hoàn cảnh tương tự.
Thế rồi, cũng như Alan Greenspan đã tăng lãi suất quá chậm sau giai đoạn 2002, NHNN Việt nam đã không nhận ra mối nguy hiểm tiềm tàng của sự trở lại của lạm pháp vào năm 2005 để có chính sách thắt chặt tiền tệ hợp lý. Càng không may hơn khi giai đoạn 2003-2007 thị trường tài chính thế giới tràn ngập vốn từ các nước có thặng dư mậu dịch với Mỹ và các nước xuất khẩu dầu mỏ (oil dollar). Việt nam bỗng chốc được nhiều nhà đầu tư chú ý như là một điểm đến hấp dẫn sau hàng loạt những báo cáo rất khả quan về triển vọng kinh tế của các tổ chức quốc tế (IMF, WB, ADB) và các ngân hàng đầu tư lớn (JPM, HSBC, GS). Dòng vốn nước ngoài vì vậy đổ vào Việt nam ngày càng nhiều, tất yếu dẫn đến tăng cung tiền khi NHNN cố gắng giữ tỷ giá USDVND cố định (hậu quả của nguyên tắc tam pháp bất tương đồng - impossible trinity).
Điều này khá đơn giản: khi dòng vốn nước ngoài chảy vào, NHNN phải mua ngoại tệ để cân bằng cung cầu trên thị trường ngoại hối nhằm giữ tỷ giá ổn định. Động thái này trực tiếp làm tăng M0 (cơ sở tiền tệ) và cộng với kỳ vọng rất tốt của nền kinh tế vào lúc đó đã làm M2 (tổng phương tiện thanh toán) tăng nhanh tương ứng thông qua sự tăng trưởng tín dụng gần như không tưởng. Đỉnh điểm tăng trưởng tín dụng đã vượt 50% trong năm 2007 so với trung bình dưới 10% ở các nước khác, điều này tương đương với tổng tài sản (assets) của hệ thống ngân hàng đã tăng hơn gấp rưỡi chỉ trong vòng một năm. Mức tăng trưởng này khó có thể xảy ra nếu NHNN quản lý chặt tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản (capital-asset ratio) của các NHTM, nhất là khi một lượng lớn tín dụng chảy vào bất động sản và chứng khoán, hai lĩnh vực có giá trị chịu rủi ro (VaR) cao theo Basel II (công ước quốc tế về quản lý rủi ro trong hệ thống ngân hàng).
Đến cuối giai đoạn 2002-2007 nền kinh tế đã phát triển quá nóng, không chỉ biểu hiện qua lạm phát gia tăng từ cuối năm 2004 mà còn qua sự quá tải của hệ thống cơ sở hạ tầng như giao thông, điện lực mà bất kỳ ai cũng quan sát được. Khi không còn năng lực sản xuất dự phòng (spare capacity) để hấp thụ lượng tín dụng đang tăng nhanh chóng, điều tất yếu là lạm phát. Việc cố gắng giữ tỷ giá cố định khi nền kinh tế bị lạm phát cao dẫn đến tỷ giá thực (real exchange rate) của VND tăng lên một cách vô thức, cộng với thâm hụt ngân sách ngày càng lớn, dẫn đến cán cân thương mại xấu dần. Khi thị trường chứng khoán và bất động sản lên cơn sốt trong giai đoạn 2006-2007 nhiều người cho rằng đây chỉ là bong bóng đầu cơ. Tuy nhiên, nếu đặt trong hoàn cảnh tỷ giá thực gia tăng và thâm hụt thương mại lớn (thặng dư tài khoản vốn) thì điều này hoàn toàn lý giải được.
Theo tôi, nếu coi việc NHNN giữ chính sách tièn tệ nới lỏng quá lâu dẫn đến lạm phát thì có thể coi đây là một sai lầm đáng tiếc (innocent mistake) vì đó là hậu quả tất yếu của nguyên tắc tam pháp bất tương đồng. Nhìn vào quá khứ từ thởi điểm này có thể dễ dàng nhận ra sai lầm của NHNN, nhưng vào lúc đó khó ai có thể có tầm nhìn xa như vậy. Cũng tương tự, không chỉ Alan Greenspan không nhận ra mối nguy hiểm của chính sách của mình, đại đa số các nhà đầu tư chuyên nghiệp và các nhà kinh tế cũng không lường được mối nguy hiểm của sự tăng trưởng tín dụng trên thị trường tài chính thế giới mà mắt xích yếu nhất là thị trường cho vay bất động sản dưới chuẩn của Mỹ. Bằng chứng là toàn bộ giới tài chính quốc tế đã hoàn toàn bất ngờ khi cuộc khủng hoảng trong thị trường này xảy ra.
Trong giai đoạn 2005-2006, một trong những loạt bài bình luận kinh tế tài chính mà tôi rất hứng thú theo dõi là các bản bình luận của tiến sĩ Edward Yardeni, một chuyên gia tư vấn kinh tế tài chính có uy tín ở Wall Street. Yardeni đã tư vấn cho rất nhiều khách hàng của mình là các ngân hàng đầu tư (investment banks) và quĩ đầu cơ (hedge funds) rằng nền kinh tế Mỹ sẽ tiếp tục chu kỳ tăng trưởng (booming) mặc dù đang có mức thâm hụt thương mại lịch sử và FED nên tiếp tục chính sách tiền tệ nới lỏng. Lập luận của Yardeni và nhiều nhà kinh tế lúc đó là quá trình toàn cầu hóa đã làm tổng của cải (wealth) toàn cầu tăng rất nhanh nên quan hệ cung cầu tiết kiệm (saving) đã thay đổi. Do đó, Mỹ, trong vai trò của một nước cung cấp đồng tiền dự trữ cho toàn thế giới, có thể chịu được (sustain) một mức thâm hụt thương mại cao hơn mức trung bình trong lịch sử. Trong khi đó Trung quốc và các nước mới nổi (emerging markets) đang làm tràn ngập thị trường thế giới bằng những làn sóng hàng hóa tiêu dùng giá rẻ làm cho mức độ cạnh tranh trong hầu hết các ngành công nghiệp tăng lên đáng kể. Điều này sẽ giữ lạm phát ở mức thấp nên FED và các ngân hàng trung ương khác không cần tăng lãi suất để kìm chế lạm phát và kỳ vọng lạm phát như trong các giai đoạn tăng trưởng trước đây.
Rất tiếc, những điều Yardeni và nhiều người khác phân tích và dự báo đã không đúng. Uy tín của Yardeni bị giảm sút nhiều cũng như Alan Greenspan đã không còn được nhiều người tôn sùng như “nhà phù thủy” của thị trường tài chính. Nhưng sai lầm trong phân tích dự báo kinh tế là điều không thể tránh khỏi và bất kỳ ai cũng có thể lặp lại những sai lầm của Yardeni, Greenspan, hay Lê Đức Thúy – Thống đốc NHNN Việt nam vào thời điểm 2002-2007. Cá nhân tôi, trong vai trò của một người cũng làm công tác phân tích và dự báo kinh tế, hoàn toàn thông cảm với NHNN và Chính phủ Việt nam trong giai đoạn 2002-2007. Sai lầm này, để tổng cầu và tín dụng tăng quá cao dẫn đến lạm phát và thâm hụt cán cân thương mại, một phần còn do phải chạy theo mục tiêu tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước mà Đảng và Quốc hội đề ra. Về vấn đề về tính độc lập của NHNN sẽ được đề cập đến trong một bài viêt khác.
Phản ứng của NHNN Việt nam
Khi giá dầu mỏ và lương thực thế giới tăng mạnh từ nửa cuối 2007, lạm phát tại Việt nam bị đẩy lên đến ngưỡng nguy hiểm, một phần nền kinh tế Việt nam lúc này đã quá mở, một phần vì tỷ trọng năng lượng và thực phẩm trong rổ hàng hóa tính CPI của Việt nam cao hơn nhiều nước. Dường như điều này làm các nhà hoạch định chính sách Việt nam bừng tỉnh khỏi giấc mơ “Các chu kỳ kinh tế đã chết – Tăng trưởng sẽ là vĩnh viễn” (“Business cycle is dead – permanent growth is here to stay”) mà nhiều nhà kinh tế trên thế giới cũng đã mơ tưởng. Phản ứng của NHNN vẫn là một chính sách chuẩn (textbook policy): thắt chặt chính sách tiền tệ qua việc tăng lãi suất cơ bản và nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Bên cạnh đó NHNN còn phát hành tín phiếu bắt buộc của mình để hút tiền mặt về, một công cụ điều hành chính sách tiền tệ khá mới mẻ mà bản thân FED cũng đang tìm cách xin Quốc hội Mỹ cho phép sử dụng.
Như đã phân tích trong một vài bài viết gần đây, tôi cho rằng chính sách thắt chặt tiền tệ vào lúc này là đúng, tuy nhiên cách NHNN thực hiện nó đã tạo ra nhiều rủi ro cho hệ thống các NHTM. Theo tôi, NHNN đã có một sự ngộ nhận về vai trò của M0 và M2 đối với lạm phát. Cốt lõi của vấn đề là các ngân hàng trung ương có thể kiểm soát trực tiếp được M0, nhưng M2 mới có ảnh hưởng trực tiếp đến lạm phát mà các ngân hàng trung ương chỉ có thể tác động gián tiếp đến M2. Khi cắt giảm M0, tương đương với tăng lãi suất, M2 sẽ giảm thông qua giảm tăng trưởng tín dụng hoặc thậm chí thu nhỏ tín dụng (banking deleverage) với một độ trễ nhất định. Độ trễ này thường là 12-18 tháng trong một nền kinh tế có hệ thống tài chính phát triển, tức là kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ có hiệu quả. Đối với Việt nam, với một hệ thống tài chính còn sơ khai và tình trạng đô-la hóa khá cao, độ trễ của chinh sách tiền tệ có thể còn dài hơn.
Tuy nhiên NHNN, trong lúc quá nóng vội trông thấy kết quả chống lạm phát của mình vì chịu nhiều sức ép của cả dư luận lẫn Chính phủ, đã bóp nghẹt M0 quá nhanh trong ngắn hạn dẫn đến một cuộc khủng hoảng thanh khoản trong hệ thống ngân hàng. Khi điều này xảy ra từ cuối tháng 2/2008, NHNN lại mắc thêm một sai lầm nữa là không thực hiện đầy đủ chức năng “người cho vay cuối cùng” của mình để giải tỏa khó khăn thanh khoản cho các ngân hàng thương mại. Sai lầm này, cũng vì nhầm tưởng tăng thanh khoản sẽ làm tăng M0 và làm lạm phát tăng cao, xét cho cùng lại là một sai lầm đáng tiếc của NHNN và cũng có liên quan đến tính độc lập của NHNN.
Việc đẩy hệ thống ngân hàng vào một cuộc khủng hoảng, dù có thể chỉ bắt đầu bằng khó khăn thanh khoảng, là một điều rất nguy hiểm. Cuộc Đại Khủng hoảng (Great Depression) của Mỹ năm 1929-1933 có nguyên nhân lớn từ sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng. Một số học giả cho rằng, trong giai đoạn 1929-1933 lẽ ra Mỹ chỉ phải trải qua một cuộc suy thoái nhẹ theo đúng qui trình của chu kỳ kinh tế lúc đó nếu FED đã không sai lầm. Bài học này được FED và các ngân hàng trung ương khác rút kinh nghiệm nên trong bất kỳ trường hợp nào sự ổn định của hệ thống ngân hàng cũng được đặt lên hàng đầu, bất chấp những hậu quả xấu có thể có trong dài hạn. Đó chính là lý do LTCM, Northern Rock, Bear Stearns đã được giải cứu (bail-out) dù nhiều người lo ngại điều này sẽ làm tăng tính rủi ro do tâm lý ỷ lại (moral hazard) trong tương lai.
Joseph Schumpeter, người đầu tiên đưa ra khái niệm chu kỳ kinh tế, đã cho rằng các kỳ suy thoái kinh tế, mặc dù làm giảm mức sống của đa số dân chúng, cũng đem lại một lợi ích to lớn mà ông gọi là “sự phá hủy có tính sáng tạo” (creative destruction). Tuy nhiên NHNN Việt nam nên hiểu rằng, điều cuối cùng mà họ muốn thấy là “sự phá hủy” của hệ thống NHTM mà rất có thể được khơi mào bằng một cuộc khủng hoảng thanh khoản không đáng có.
Giang Le
11/06/2008
Update 1: Alan Blinder (giáo sư kinh tế đại học Princeton, từng là phó của Alan Greenspan thời kỳ 1994-1996) vừa có một bài viết trên New York Times phân tích về sai lầm của Greenspan trong giai đoạn 2002-2003 giữ lãi suất quá thấp quá lâu tạo ra tiền đề cho cuộc khủng hoảng cho vay bất động sản dưới chuẩn. Giáo sư Blinder cho rằng không nên phê phán chính sách tiền tệ của Greenspan vào giai đoạn đó mà nên phê phán FED đã không thực thi tốt việc giám sát tính cẩn trọng (prudential supervision – chức năng thứ hai của một ngân hàng trung ương) với các NHTM để các ngân hàng này cho vay, theo thuật ngữ của Blinder, “irresponsible or crazy bank lending” (nghe có vẻ giống các NHTM Việt nam đã tăng trưởng tín dụng 53.8% trong năm 2007).
Update 2: Goldman Sachs vừa có một bài phân tích về chính sách tiền tệ của ECB (ngân hàng trung ương Châu Âu), trong đó có một đồ thị minh họa sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng M0 và M3 của Euroland. (Chú thích: M0 là cơ sở tiền tệ hay nói một cách đơn giản là lượng tiền mặt mà ngân hàng trung ương phát hành (in tiền). Đây là đại lượng mà ngân hàng trung ương có thể kiểm soát được trực tiếp. M3 (một số nước dùng M2) là tổng phương tiện thanh toán, bao gồm M0 và các khoản tiền gửi tại các ngân hàng thương mại và một số công cụ tín dụng có tính thanh khoản cao.)

Update 3: Cũng theo một báo cáo khác của Goldman Sachs, trong ba cuộc suy thoái gần đây, độ trễ của tác động giảm tăng trưởng vào lạm phát (hiệu ứng Phillips curve) dài từ 4-5.8 quí (tính trung bình cho Mỹ, Anh, Đức, Canada, Úc).

Nếu coi quí 1 năm 2008 nền kinh tế Việt nam sụt giảm thấp nhất dưới mức tiềm năng (peak in output gap), mặc dù điều này có lẽ sẽ xảy ra muộn hơn, thì lạm phát sẽ còn phải tăng 4-5 quí nữa nếu thống kê của Goldman Sachs cũng đúng cho Việt nam. Nghĩa là phải sang đầu năm 2009 mới có hi vọng lạm phát sẽ suy giảm (ngoại trừ trường hợp giá dầu và lương thực thế giới giảm mạnh bất ngờ).
Update 4:Theo Morgan Stanley trong đò thị dưới đây, các ngân hàng trung ương trên thế giới đã bắt đầu chu kỳ thắt chặt tiền tệ từ giữa năm 2004 theo chân chính sách của Alan Greenspan tại FED vào thời điểm đó. Như vậy NHNN VN đã bắt đầu thắt chặt chính sách tiền tệ chậm hơn 3 năm so với các ngân hàng trung ương khác.

Sửa bởi ThanhYen - 27/10/2008 lúc 07:19 |
|
Số vàng tặng cho bài viết này (cho điểm) : 15 Lượng
|
|
hoa phu
Thành viên tích cực
Online:
Bài viết: 475
Gia nhập: 16/3/2008
Giới tính: Nam  Ngân quỹ: 207 Lượng
Nhà đầu tư mới
|
Gửi: 08/07/2008 lúc 07:07 Th.báo nội dung xấu | Bình chọn bài viết |
Tình trạng bất ổn vĩ mô:
Nguyên nhân và phản ứng chính sách

I. Tổng quan
Nền kinh tế Việt Nam đã bước vào một giai đoạn tiềm ẩn những nguy cơ bất ổn. Mặc dù tình hình này chủ yếu do các nhân tố nội tại gây ra, nó lại bị bao phủ bởi những biến động ngày càng gia tăng của nền kinh tế toàn cầu. Trong ngắn hạn, nền kinh tế Việt Nam chưa được chuẩn bị để đối phó với sự nguy giảm kinh tế toàn cầu. Trong tình huống xấu nhất, sự giảm sút, thậm chí đảo chiều của dòng vốn ngắn hạn từ bên ngoài (hiện đang giúp cân bằng lại thâm hụt thương mại ngày tăng của Việt Nam) đòi hỏi phải có những điều chỉnh vĩ mô khó khăn nhưng cần thiết, trong đó bao gồm cả việc chấp nhận giảm tốc độ tăng trưởng. Để hạn chế khả năng xảy ra kết cục không mong muốn này, chính phủ cần duy trì một sự linh hoạt và khả năng phản ứng nhạy bén trước những thay đổi vĩ mô. Sự ổn định vĩ mô đóng vai trò then chốt trong việc thực hiện mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong những thập kỷ tới. Vì vậy, sự lên xuống thất thường của nền kinh tế sẽ là một bước thụt lùi nghiêm trọng trong quá trình thực hiện ước vọng gia nhập hàng ngũ những nước thu nhập trung bình, rồi thu nhập cao của đất nước.
Một luận điểm chính của bài viết này để khôi phục sự ổn định vĩ mô và để “giảm sốc” cho nền kinh tế Việt Nam trước sự suy giảm của nền kinh tế thế giới, đưa Việt Nam trở lại quỹ đạo phát triển bền vững hơn đòi hỏi chính phủ phải thực hiện một loạt những điều chỉnh vĩ mô đồng bộ. Cụ thể là chính phủ cần kiềm chế lạm phát, giảm thâm hụt ngân sách và thương mại, giảm tốc độ tăng trưởng cung tiền và tín dụng thông qua một tập hợp các chính sách được phối hợp một cách nhất quán và nhịp nhàng. Chính phủ cũng cần “xì hơi” bong bóng bất động sản từ từ để tránh sự đổ vỡ đột ngột của thị trường, điều mà nếu xảy ra sẽ gây náo loạn khu vực tài chính với nguy cơ tác động lan tỏa tới nền kinh tế thực (tức là hoạt động sản xuất - kinh doanh hàng hóa và dịch vụ). Để có thể thành công trong việc thực hiện những chính sách bình ổn trong ngắn hạn và duy trì được môi trường kinh tế ổn định trong trung và dài hạn, chính phủ Việt Nam cần nâng cao năng lực phối hợp chính sách hiện còn yếu và thiếu hiệu lực. Hiện nay, các cơ quan hoạch địch chính sách của Việt Nam đang bị phân tán, thiếu sự phối hợp, quá nhạy cảm trước sức ép *****, và thiếu năng lực chuyên môn. Một thông điệp chính chúng tôi muốn chuyển tới chính phủ là để hội nhập sâu sắc hơn vào nền kinh tế quốc tế, chính phủ Việt Nam cần phát triển bằng được những cơ quan hoạch địch và phân tích chính sách chuyên nghiệp và có trách nhiệm, có khả năng phản ứng nhanh chóng và hiệu quả trước những thay đổi trong nền kinh tế nội địa và toàn cầu.
Cần nhấn mạnh rằng mục đích của bài thảo luận chính sách này là phân tích một số vấn đề vĩ mô quan trọng của Việt Nam hiện nay và trình bày một số đề xuất về khung chính sách cụ thể vì chúng tôi hiểu rằng để làm được việc này, cần có những phân tích chi tiết và công phu hơn, dựa trên những số liệu và thông tin đầy đủ, cập nhật, và đòi hỏi một sự điều hành cẩn trọng nhất.
Tuy nhiên, chúng tôi kiến nghị trước mắt, chính phủ cần triển khai năm hành đồng để tạo điều kiện cho sự vãn hồi ổn định vĩ mô. Những hành động này bao gồm:
* Kiểm soát đầu tư công. Cần phân tích thật cẩn thận những chương trình đầu tư công hiện tại, bao gồm cả những dự án đầu tư của doanh nghiệp nhà nước để từ đó xây dựng danh mục các dự án ưu tiên đầu tư căn cứ theo tiêu thức hiệu quả kinh tế (chứ không phải mục tiêu *****). Đồng thời, cũng cần xây dựng các phương án dự phòng khi xảy ra tình huống xấu để có thể đình chỉ hay cắt giảm ngay một số dự án khi điều kiện kinh tế vĩ mô trở nên khó khăn.
* Giảm bong bóng bất động sản. Phải kiềm chế tín dụng ngân hàng cho khu vực bất động sản để tránh tình trạng hỗn loạn nghiêm trọng trong hệ thống ngân hàng khi bong bóng vỡ. Cần áp dụng thuế nhà đất, một mặt để tăng nguồn thu cho ngân sách, mặt khác để điều chỉnh và đưa thị trường nhà đất vào vòng trật tự. Chính sách này cần được kết hợp với một cải cách triệt để về quy hoạch vùng và các quy định liên quan đến quyền sử dụng đất sao cho các quy định pháp luật trở nên minh bạch và có tính giải trình cao hơn.
* Cắt giảm vay thương mại quốc tế. Chính phủ cần thắt chặt và kiểm soát chặt chẽ các hoạt động vay thương mại trên thị trường quốc tế của khu vực nhà nước. Các quyết định này có thể được xem xét lại một cách định kỳ cho đến khi các điều kiện kinh tế vĩ mô của Việt Nam được bình ổn trở lại.
* Tăng cường tính độc lập và năng lực cho Ngân hàng Nhà nước. Chính phủ cần có kế hoạch tổ chức lại Ngân hàng Nhà nước theo hướng tăng cường tính độc lập (đặc biệt là độc lập về mục tiêu và công cụ) và khả năng sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ trong một nền kinh tế thị trường hiện đại. Điều này đòi hỏi sự góp ý và tư vấn của các chuyên gia về ngân hàng trung ương, bao gồm một số thống đốc ngân hàng trung ương trong khu vực và một số chuyên gia kỹ thuật quốc tế đã từng làm việc tại các nước Đông Nam Á.
* Xây dựng một cơ quan quản lý kinh tế cao cấp. Cơ quan này hoạt động tương tự như Hội đồng Phát triển Kinh tế của Sing-ga-po và của một số nước khác trong khu vực, được giao nhiệm vụ điều phối chính sách vĩ mô và đảm bảo kỷ cương trong khu vực nhà nước. Thành viên của cơ quan này phải được lựa chọn dựa theo năng lực, có mức lương tương đương với những chức vụ quản trị ở khu vực tư. Cơ quan này sẽ báo cáo trực tiếp cho Thủ tướng Chính phủ và phải được bảo vệ khỏi sức ép ***** và sự tác động của các nhóm đặc quyền đặc lợi. Cơ quan này phải có thẩm quyền cao hơn các bộ ban ngành, *** địa phương, và tất nhiên là cả các tập đoàn kinh tế nhà nước.
II. Phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô
Nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong 15 năm qua tương đối ổn định. Liên kết kinh tế của Việt Nam với phần còn lại của thế giới chủ yếu giới hạn trong phạm vi các quan hệ thương mại, hỗ trợ phát triển chính thức và kiều hối. Tuy nhiên, việc chính thức gia nhập WTO và các hiệp định quốc tế khác về thương mại và đầu tư, kết hợp với quát trình nới lỏng kiểm soát đối với hoạt động của khu vực dân doanh trong nước đã giúp Việt Nam mở rộng và tăng cường quan hệ kinh tế quốc tế. Dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp của nước ngoài gia tăng đột biến và khu vực tài chính đã mở rộng cửa hơn cho cạnh tranh quốc tế. Một số “tròng trành” gần đây cấp quản lý vĩ mô trong thời kỳ hội nhập sâu hơn hậu WTO.
Nền kinh tế Việt Nam đang nóng. Bằng chứng là lạm phát vẫn tiếp tục gia tăng, thâm hụt ngân sách và thương mại ngày càng lớn, và bong bóng giá bất động sản ngày càng phình to.
1. Lạm phát
Không thể phủ nhận việc tăng giá dầu và một số nguyên liệu sản xuất trên thị trường thế giới cũng như thiên tai, dịch bệnh trong nước là nguyên nhân khách quan dẫn tới việc tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong năm 2007. Tuy nhiên, lạm phát ở Việt Nam chủ yếu xuất phát từ các nhân tố chủ quan, có tính cơ cấu của nền kinh tế vì nếu lạm phát chủ yếu do giá thế giới tăng thì các nước khác như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia… cũng đều phải chịu sức ép tương tự. Tuy nhiên, lạm phát ở các nước này lại thấp hơn một cách đáng kể so với Việt Nam (xem Hình 1).
Hình 1: Chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam và một số nước trong khu vực (2007)1

Nguyên nhân chính của lạm phát là mặc dù nền kinh tế kém hiệu quả nhưng lại phải hấp thụ một lượng vốn quá lớn. Tổng lượng vốn từ bên ngoài chảy vào nền kinh tế trong năm 2007 ước chừng lên tới 22 - 23 tỷ USD (tương đương 30% GDP)2. Đồng thời, tăng cung tiền, tín dụng, và đầu tư đều đạt mức kỷ lục, trong đó một tỷ lệ rất lớn được dành cho các DN nhà nước kém hiệu quả. Khi lượng tiền đó vào nền kinh tế quá nhiều, lại không được sử dụng một cách hiệu quả để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ thì sẽ dẫn tới tình trạng “quá nhiều tiền nhưng quá ít hàng”. Cụ thể là trong 3 năm (từ 2005 đến 2007), cung tiền tăng tổng cộng 135% nhưng GDP chỉ tăng 27%, và lạm phát là hệ quả tất yếu.
Như vậy, chiến lược tăng trưởng dựa vào đầu tư của Việt Nam (tức là duy trì tỉ lệ đầu tư nội địa cao hơn tỉ lệ tiết kiệm nội địa) đã đẩy nền kinh tế vượt quá giới hạn hiện tại của nó. Vì vậy, nâng cao hiệu quả của đầu tư phải được xem là một mục tiêu quan trọng hàng đầu trong trung hạn. Trong thời gian trước mắt, chính phủ cần khôi phục lại sự cân bằng vĩ mô ngay lập tức bằng cách giảm tỉ lệ đầu tư công. Đống thời, đầu tư công cần được tập trung vào các dự án có khả năng tháo gỡ những “nút thắt cổ chai” của tăng trưởng mà không được phép phung phí vào những dự án tuy hoành tráng nhưng không đem lại hiệu quả kinh tế. Chính phủ cần tiếp tục đầu tư phát triển hệ thống cảng biển và đường bộ kết nối các nhà xuất khẩu Việt Nam với thị trường thế giới. Chính phủ cũng cần đầu tư mạnh mẽ cho giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, y tế cơ sở và y tế cộng đồng, cơ sở hạ tầng đô thị v.v… Không nên sử dụng những nguồn đầu tư công khan hiếm để thực hiện các dự án mà khu vực tư sẵn sàng tham gia như xây cầu, đường có thu lệ phí. Chính phủ cần tìm cách khuyến khích sự tham gia của khu vực tư vào việc cung ứng các cơ sở hạ tầng thiết yếu để có thể tăng cung, giảm chi phí, nâng cao chất lượng.
Một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến lạm phát là kỳ vọng của các tác nhân trong nền kinh tế. Hình 2 trình bày mức lạm phát danh nghĩa và lạm phát kỳ vọng của Việt Nam, Trung Quốc và Thái Lan. Lưu ý rằng ở Thái Lan và Trung Quốc, lạm phát danh nghĩa xấp xỉ với lạm phát kỳ vọng, trong khi đó ở Việt Nam lạm phát kỳ vọng cao hơn rất nhiều so với lạm phát danh nghĩa. Ở Thái Lan, mặc dù mức tăng cung tiền xấp xỉ với tốc độ tăng trưởng GDP thực, thế nhưng chính những bất ổn ***** ở nước này làm cho lạm phát lên tới khoảng 5% vì người dân không muốn giữ tiền Bạt.
Hình 2. Lạm phát danh nghĩa và lạm phát kỳ vọng

Những phân tích về lạm phát trên đây dẫn tới hai khuyến nghị chính sách trước mắt. Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần “thu hồi” các dòng vốn chảy vào, đồng thời bán các công cụ nợ bằng tiền Đồng để giảm lượng tiền trong lưu thông. Thứ hai, hoạt động đầu tư công cần có tính chọn lọc cao hơn, nhắm vào các dự án tạo ra tăng trưởng sản lượng cao nhất cho mỗi đơn vị vốn đầu tư. Hiện nay ở Việt Nam có quá nhiều dự án đầu tư công kém hiệu quả chủ yếu vì những dự án này nhằm phục vụ các mục tiêu ***** và hành chính hơn là kinh tế.
2. Bong bóng bất động sản
So với Nhật Bản, Việt Nam có diện tích đất sinh hoạt trên đầu ng***** hơn, thu nhập trên đầu người thấp hơn tới 50 lần, thế nhưng giá nhà đất đô thị ở hai nước lại có khi tương đương nhau. Đây là một bằng chứng về mức độ bong bóng của giá bất động sản ở các đô thị của Việt Nam. Không những thế, giá đất vẫn tiếp tục tăng rất nhanh trong năm 2007. Giá đất ở một số khu vực nông thôn giờ đây cũng đã tăng nhanh một cách không thể chấp nhận được.
Tại sao giá đất lại cao và tăng nhanh như vậy? Nhu cầu thực sự của người dân xuất phát từ quá trình đô thị hóa và mức sống gia tăng là một nguyên nhân quan trọng. Tuy nhiên, đây không phải là nguyên nhân quan trọng nhất vì nếu thế giá nhà đất phải tương ứng với mức thu nhập của người dân. Thế nhưng, với giá nhầ đất ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh như hiện nay thì ngay cả những người được coi là có thu nhập cao trong xã hội (những người phải đóng thuế thu nhập cao, chiếm 0,4% lực lượng lao động) cũng phải tiết kiệm 30 - 40 năm may ra mới có thể mua được một căn hộ với diện tích và chất lượng vừa phải.
Những nguyên nhân quan trọng hơn dẫn tới tình trạng bong bóng giá bất động sản bao gồm. Thứ nhất, nguồn tiền trong nền kinh tế quá dồi dào (do tăng cung tiền, tăng cung tín dụng đầu tư bất động sản, kiều hối, tiền tham nhũng và thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản v.v…) trong khi đó lợi nhuận từ đầu cơ đất đai lại hấp dẫn hơn bất kỳ một hoạt động đầu tư sản xuất nào khác. Vì vậy, một phần rất lớn nguồn lực của nền kinh tế bị chuyển sang mục đích phi sản xuất có tính đầu cơ và không tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Thứ hai, trong khi cả nhu cầu thực, và đặc biệt, nhu cầu đầu cơ tăng mạnh thì nguồn cung nhà và đất lại hạn chế. Tình trạng mất cân bằng cung cầu tất yếu đẩy giá nhà đất lên cao.
Bong bóng bất động sản tiềm ẩn nhiều nguy cơ nghiêm trọng đối với nền kinh tế. Như chúng tôi đã phân tích trong Lựa chọn thành công, doanh nghiệp Việt Nam (đáng kể nhất là các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước) đang di chuyển nguồn lực từ các lĩnh vực kinh doanh nòng cốt sang hoạt động đầu cơ bất động sản, một động thái chắc chắn sẽ làm suy giảm năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp này. Bong bóng bất động sản cũng gây ra những rủi ro đáng kể cho hệ thống tài chính của Việt Nam. Nếu, và trên thực tế điều này đã xảy ra, các ngân hàng thương mại của Việt Nam cho các nhà đầu cơ và phát triển bất động sản vay dựa trên tài sản thế chấp là đất với giá đã được thổi phồng thì tồn tại một nguy cơ là khi giá đất “hạ cánh”, những người đi vay này sẽ mất khả năng trả nợ. Mặc dù khi ấy ngân hàng vẫn nắm giữ các khoản thế chấp bằng đất, nhưng với giá trị chỉ bằng một phần giá trị của khoản đã cho vay. Hiện tượng này đã xảy ra ở Nhật vào đầu những năm 1990 gây nên những đảo lộn trong hệ thống tài chính của nước này, và đến tận bây giờ, người ta vẫn còn cảm nhận được dư chấn của nó.3 Với những yếu kém hiện nay của hệ thống tài chính Việt Nam, rất có thể Việt Nam sẽ chịu những tác động tương tự nhưng với hậu quả còn nặng nề hơn so với Nhật Bản. Một thực tế hết sức đáng lo là hiện nay, hầu như không ai biết một cách tương đối chính xác về quy mô của những khoản vay có sử dụng đất làm vật thế chấp. Trong khi đó, thông tin chính xác và cập nhật là một yêu cầu thiết yếu để có được những chính sách đúng đắn và hiệu quả.
3. Thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại
Theo kinh nghiệm quốc tế, ở điều kiện bình thường, thâm hụt ngân sách 3% được coi là đáng lo ngại, còn 5% thì bị coi là đáng báo động. Hiện nay, thâm hụt ngân sách của Việt Nam đã lên tới 5,8% GDP. Không những thế, những khoản chi ngoài ngân sách trong mấy năm gần đây lên tới 20 - 25% tổng ngân sách, một tỷ lệ quá cao.
Tương tự như vậy, thâm hụt thương mại của Việt Nam năm 2007 ước chừng 12 tỷ USD, tức là khoảng 16% GDP. Cũng theo kinh nghiệm quốc tế, ở điều kiện bình thường, thâm hụt thương mại 5 - 10% được coi là đáng lo ngại. Mức thâm hụt hiện nay của Việt Nam có thể bị coi là đáng báo động.
Nếu không có dòng vốn đầu tư và viện trợ nước ngoài đổ vào ồ ạt trong mấy năm trở lại đây thì tình trạng thâm hụt ngân sách và thương mại ở mức độ nghiêm trọng như thế này tất yếu sẽ dẫn tới những sự đổ vỡ trong nền kinh tế vĩ mô. Nói cách khác, nếu vì lý do nào đó các dòng vốn này đảo chiều thì nền kinh tế của Việt Nam sẽ đứng trước những rủi ro khôn lường.
4. Dự trữ ngoại hối
Như miêu tả trong Hình 3, dự trữ ngoại hối của Việt Nam thuộc loại thấp nhất trong khu vực. Câu hỏi đặt ra cho các nhà làm chính sách là liệu mức dự trữ như vậy đã thích hợp chữa? Một mặt, chi phí cơ hội của việc giữ dự trữ không nhỏ. Một lựa chọn khác là giữ nợ nước ngoài, tuy nhiên lãi suất thu được hiện đang thấp hơn mức lạm phát. Mặt khác, dự trữ ngoại hối đóng vai trò “giảm sốc”, giúp nền kinh tế chống đỡ được các cú sốc trong thương mại quốc tế như giá hàng xuất khẩu giảm (hay giá hàng nhập khẩu tăng), mất thị trường xuất khẩu, hay những biến động về cầu trên thị trường quốc tế. Dự trữ ngoại hối còn giúp “điều hòa” những biến động của các dòng lưu chuyển vốn. Điều này đặc biệt quan trọng trong điều kiện hiện nay khi Việt Nam đang bị thâm hụt thương mại nặng nề. Hơn thế, ước tính thâm hụt thương mại của Việt Nam trong năm 2008 còn cao hơn năm 2007, đạt mức 17 tỷ USD, tương đương với khoảng 20% GDP. Điều này có nghĩa là để cân bằng được tài khoản vãng lai thì trong năm 2008, Việt Nam phải thu hút được 17 tỷ USD từ nguồn vốn bên ngoài. Nếu nhập khẩu được thực hiện theo đúng kế hoạch nhưng các dòng vốn nước ngoài lại suy giảm (hay tồi tệ hơn đảo chiều) thì việc quản lý nền vĩ mô sẽ trở nên hết sức khó khăn.
Vào thời điểm cuối tháng 12/2007, dự trữ ngoại hối của Việt Nam tương đương một phần ba kim ngạch nhập khẩu. Trong khi đó, mặc dù có tỷ lệ vốn nước ngoài ngắn hạn thấp hơn Việt Nam nhưng dự trữ ngoại hối của Thái Lan, Inđônêxia, và Malayxia lên tới hai phần ba, thậm chí ba phần tư kim ngạch nhập khẩu của mỗi nước. Rõ ràng là các nước này đã rút ra được bài học từ cuộc khủng hoảng 1997 về vai trò quan trọng của dự trữ ngoại hối trong việc “bảo hiểm” cho nền kinh tế chống lại những thay đổi bất lợi trong nền kinh tế nội địa hay toàn cầu. Mặc dù Việt Nam không thể tăng tỷ lệ dự trữ ngoại hối lên mức của các nước trong khu vực trong ngày một ngày hai, nhưng trong điều kiện thuận lợi khi dòng vốn vào đang sung mãn như hiện nay, Việt Nam nên tận dụng cơ hội này để tăng cường dự trữ phòng khi “thời tiết xấu”.
Hình 3. Dự trữ ngoại hối cuối năm 2007 (phần trăm của kim ngạch nhập khẩu)

III. Hạn chế có tính cơ cấu của các cơ quan điều hành vĩ mô
Hệ thống quản lý kinh tế của Việt Nam chưa tương thích với một nền kinh tế hội nhập toàn cầu. Hiện nay, ba bộ và cơ quan ngang bộ có trách nhiệm hoạch định chính sách vĩ mô là Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch- Đầu tư (Bộ KHĐT), và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chưa phối hợp với nhau một cách hiệu quả. Bộ KHĐT thuần túy làm công việc tổng hợp các kế hoạch đầu tư mà không lưu ý một cách thích đáng tới tình hình vĩ mô chung của nền kinh tế. Đối với Bộ Tài chính, mối bận tâm lớn nhất là huy động và phân bổ vốn cho các dự án đã được phê duyệt và chỉ kiểm soát được (một phần) các khoản chi thường xuyên. Tuy nhiên, với rất nhiều các khoản chi xuất hiện dưới dạng đầu tư, đồng thời tỷ lệ chi ngoài ngân sách hiện đang rất cao, có thể nói là Bộ Tài chính chưa kiểm soát tốt chính sách ngân sách. Về phía NHNN, cơ quan này không được phép quyết định lượng cung tiền và cung tín dụng như “thiên chức” vốn có của các ngân hàng trung ương trên thế giới mà chỉ có thể sử dụng một số ít các công cụ (như tỷ lệ dự trữ bắt buộc và các quyết định và chỉ thị có tính hành chính) không thực sự hữu hiệu khi phải đối diện với nguy cơ lạm phát. Trong năm 2007, ngay cả khi lạm phát tăng nhanh thì NHNN cũng không được phép điều chỉnh lãi suất. Kết quả là lãi suất thấp hơn mức lạm phát khiến cho lãi suất thực trở nên âm. Đến lượt mình, lãi suất thực âm làm cho các tài sản tài chính trở nên kém hấp dẫn và do vậy khuyến khích các nhà đầu tư chuyển từ tài sản tài chính sang bất động sản và vàng.
Bảng 1: Hệ thống quản lý kinh tế vĩ mô bất cập và thiếu đồng bộ
|
Cơ quan |
Chức năng |
Điểm yếu |
Cần thay đổi |
|
Ngân hàng Nhà nước |
Xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ |
Thiếu tính độc lập; Phụ thuộc quá mức vào các biện pháp hành chính |
* Tăng cường tính độc lập cho NHNN
* Sử dụng đầy đủ các công cụ của chính sách tiền tệ
* Giảm cung tiền và tín dụng
* Lãi suất thực dương
* Mở rộng biên độ giao dịch của tiền Đồng
* Tăng cường hoạt động giám sát và điều tiết khu vực ngân hàng |
|
Bộ Tài chính |
Xây dựng và thực hiện chính sách ngân hàng |
Thiếu chiến lược hữu hiệu về nguồn thu ngân sách; Không kiểm soát được chi tiêu ngân sách; kiểm soát chi thường xuyên kém; chi ngoài ngân sách quá nhiều |
* Giảm thâm hụt ngân sách
* Đưa tất cả các khoản chi vào trong ngân sách
* Tăng cường minh bạch trong thu chi ngân sách
* Mở rộng cơ sở thuế (đặc biệt là thuế nhà đất)
* Xây dựng khuôn khổ chung cho ngân sách |
|
Bộ Kế hoạch và Đầu tư |
Phân bổ nguồn vốn |
Phân bổ vốn và nguồn lực theo các tiêu thức ***** thay vì kinh tế |
* Loại bỏ các dự án đầu tư công lãng phí
* Thẩm định đầu tư công độc lập
* Quyết định đầu tư dựa trên phân tích chi phí - lợi ích thật minh bạch |
Những vấn đề được phân tích ở trên là rất đáng lo ngại, đặc biệt trong điều kiện hiện nay khi nền kinh tế toàn cầu đang bước vào một giai đoạn bất ổn. Việt Nam không thể tiếp tục hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô với giả định rằng các dòng vốn nước ngoài tiếp tục đổ vào Việt Nam như hiện nay, hoặc cầu đối với sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục gia tăng với tốc độ như hiện nay. Việt Nam cần một chính sách vĩ mô cẩn trong hơn để giúp nền kinh tế có sức chống đỡ dẻo dai hơn đối với những thách thức của kinh tế toàn cầu. Sự đảo chiều bất ngờ của dòng vốn ngắn hạn nước ngoài có thể dẫn tới một sự điều chỉnh sâu sắc của nền kinh tế trong nước, những điều chỉnh mà hệ thống quản lý vĩ mô của Việt Nam hiện nay chưa có khả năng thực hiện.
IV. Khuyến nghị chính sách
Phần này trình bày một số khuyến nghị chính sách có tính định hướng nhằm giảm lạm phát và tăng cường sự ổn định kinh tế vĩ mô. Mục tiêu kinh tế lớn nhất của năm 2008, đồng thời cũng là nhiệm vụ cấp bách trước mắt là thực hiện ngay các biện pháp bình ổn kinh tế vĩ mô (Bảng 2), đặc biệt là giảm lạm phát (thông qua giảm tốc độ tăng cung tiền và tín dụng), giảm thâm hụt ngân sách, giảm thâm hụt cán cân thương mại, đảm bảo lãi suất thực dương, thắt chặt chi tiêu của nhà nước (thông qua điều chỉnh đầu tư công). Việc thực hiện những chính sách điều chỉnh vĩ mô được đề xuất dưới đây sẽ không dễ dàng, nhất là khi chúng có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng GDP của năm 2008. Thế nhưng, trong điều kiện hiện nay, nền kinh tế buộc phải hy sinh một phần tăng trưởng ngắn hạn để đổi lấy sự ổn định và bền vững dài hạn. Sự thành công của chính sách bình ổn cũng sẽ giúp tăng cường niềm tin của các nhà đầu tư vào năng lực điều hành vĩ mô của chính phủ, và nhờ đó duy trì được dòng vốn đầu tư ổn định một cách lâu dài.
Bảng 2: Một số mục tiêu vĩ mô nên thực hiện trong năm 20084
|
Nội dung |
2007 |
Mục tiêu năm 2008 |
|
Tăng hụt ngân sách |
5,8% |
Dưới 5% |
|
Tăng cung tiền và tín dụng |
30 - 40% |
Dưới 20% |
|
Thâm hụt thương mại/GDP |
16% |
5 - 10% |
|
Lãi suất thực |
- 3,5% |
+ 1-2% |
|
Tỷ lệ đầu tư công/GDP |
Hơn 20% |
10 - 15% |
Những điều chỉnh vĩ mô được liệt kê trong Bảng 2 có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nói cách khác, không thể chỉ điều chỉnh một chính sách trong khi giữ nguyên các chính sách còn lại. Chẳng hạn như, mặc dù lạm phát và nhập siêu ở Việt Nam có nguyên nhân tiền tệ (do cung tiền và tín dụng tăng quá nhanh) nhưng cũng phải thấy rằng, đến lượt mình, tăng trưởng tín dụng lại phụ thuộc vào chính sách đầu tư công - vốn có quan hệ mật thiết với thâm hụt ngân sách. Như vậy, để thực hiện được các biện pháp điều chỉnh vĩ mô thì các cơ quan hoạch định chính sách của Việt Nam cần phải phối hợp với nhau một cách nhịp nhàng, và như chúng tôi sẽ chỉ ra ở phần dưới, sự nhịp nhàng và đồng bộ này chỉ có thể có được nếu như chúng được điều phối bởi một cơ quan hoạch định chính sách cao cấp duy nhất.
Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng, trong khi thực hiện những mục tiêu bình ổn vĩ mô có tính cấp bách này thì cũng không được sao nhãng mục tiêu cơ bản, có tính dài hạn và bao trùm là gia***** một cách toàn diện và triệt để sức sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của nền kinh tế.
1. Tăng cường sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và ngân sách
Trong điều kiện nền kinh tế đang quá nóng như hiện nay, chính phủ cần phối hợp chính sách tiền tệ và ngân sách để giảm tốc độ tăng trưởng của tổng cầu. Đối với Việt Nam, điều này đã trở nên khó khăn hơn trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Chẳng hạn như để giảm tổng cầu thì một trong những chính sách có thể áp dụng là tăng lãi suất (duy trì lãi suất thực dương). Thế nhưng lãi suất cao hơn sẽ có thể thu hút thêm vốn nước ngoài, và do vậy, làm tăng cung tiền, gây thêm áp lực tăng lãi suất đối với Ngân hàng Nhà nước, và vòng xoáy tăng lãi suất - thu hút thêm vốn nước ngoài cứ thế được lặp lại. Lưu ý là trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, ***** tỷ giá linh hoạt cũng sẽ không giúp cải thiện tình hình vì tiền Đồng tăng giá sẽ khuyến khích nhập khẩu, tác động tiêu cực tới xuất khẩu và làm trầm trọng thêm tình trạng thâm hụt thương mại. Đây cũng chính là vấn đề của các nước Đông Á trước khi xảy ra khủng hoảng 1997.
Chính sách tiền tệ và ngân sách phải được phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ với nhau. Chính sách thắt chặt tiền tệ sẽ không phát huy tác dụng nếu ngân sách tiếp tục được nới rộng. Bên cạnh việc giảm đầu tư công, chính phủ vẫn phải ưu tiên các dự án có mức sinh lời cao thay vì các dự án thuần túy phục vụ mục tiêu ***** (mặc dù đây là việc có thể phải làm trong dài hạn, khi nền kinh tế đã được hạ nhiệt). Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng việc cắt giảm đầu tư công cũng sẽ không giúp giảm lạm phát nếu như dòng vốn vào không được “thu hồi” một cách hiệu quả và nếu lãi suất thực vẫn tiếp tục âm.
2. Xây dựng một cơ quan hoạch định chính sách kinh tế cao cấp
Chúng tôi cho rằng tại thời điểm hiện nay, thẩm quyền ra quyết định chính sách quá phân tán, và điều này một mặt cản trở sự phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan hoạch định chính sách, mặt khác gây khó khăn cho các nhà lãnh đạo cao nhất khi họ phải phản ứng một cách quyết toán nếu khủng hoảng xảy ra. Để có thể duy trì sự nhất quán và ổn định trong hệ thống chính sách vĩ mô, Việt Nam cần tập trung thẩm quyền hoạch định chính sách trong tay một cơ quan duy nhất5. Cho dù cơ quan này sẽ được thành lập mới hay hình thành từ một cơ quan có sẵn từ trước thì nó cũng phải thấu hiểu nền kinh tế nội địa và quốc tế, đồng thời có đủ thẩm quyền để biến hiểu biết này thành những chính sách cụ thể. Để làm được điều này, cơ quan hoạch định chính sách cao cấp này phải có thẩm quyền cao hơn các bộ ban ngành, *** địa phương, và tất nhiên là cả các tập đoàn kinh tế nhà nước. Trong trường hợp xảy ra khủng hoảng, cơ quan này cũng cần được trao quyền đình chỉ hay cắt giảm những dự án đầu tư công chưa thực sự cần thiết hay lãng phí.
Cần nhấn mạnh rằng việc xây dựng năng lực phân tích và hoạch định chính sách cần thiết để cải thiện tình hình cho nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam sẽ không thể thực hiện được nếu chính phủ tiếp tục sử dụng hệ ***** tuyển dụng và đãi ngộ nhân sự hiện tại. Để có thể thu hút và giữ chân được những người thực sự giỏi, cơ quan hoạch định chính sách kinh tế cao cấp phải có thể trả lương tương đương với khu vực tư nhân. Quan trọng không kém, việc tuyển dụng, bổ nhiệm, và cất nhắc trong cơ quan này phải tuyệt đối dựa vào năng lực.
Nền kinh tế và hệ thống tài chính của Việt Nam hiện nay đã mở hơn rất nhiều so với trước và vì vậy chịu ảnh hưởng của những biến động trong nền kinh tế thế giới. Một trong số những biến động quan trọng này là phạm vi và mức độ của khủng hoảng tín dụng bất động sản dưới chuẩn của Mỹ. Nếu cuộc khủng hoảng này càng một xấu đi (mà có nhiều khả năng điều này sẽ xảy ra) thì hệ quả đối với Việt Nam sẽ khá nghiêm trọng vì ba nguyên nhân lớn sau:
Thứ nhất, khi nền kinh tế của Mỹ tăng trưởng chậm lại, thậm chí suy thoái thì người dân Mỹ sẽ cắt giảm tiêu dùng, mà đây lại là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Thứ hai, đồng USD sẽ trở nên yếu đi so với VNĐ, dẫn tới giảm xuất khẩu, tăng nhập khẩu và do đó làm xấu thêm tình trạng thâm hụt thương mại của Việt Nam. Thứ ba, do thua lỗ trên các thị trường khác, nhiều nhà đầu tư tài chính sẽ phải rút tiền khỏi Việt Nam. Điều này đặc biệt đáng lo ngại khi một tỷ lệ rất lớn trong nguồn vốn đầu tư gián tiếp vào Việt Nam là những khoản đầu cơ tài chính ngắn hạn, dễ vào mà cũng dễ ra. Vì lý do này, Ngân hàng Nhà nước cần theo dõi thật sát và báo cáo với chính phủ ngay lập tức mọi dấu hiệu đảo chiều của dòng vốn đầu tư gián tiếp.
3. Tăng cường năng lực và tính độc lập cho Ngân hàng Nhà nước
Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không đủ thẩm quyền và công cụ chính sách, đồng thời cấu trúc quản lý lại bất cập để có thể vận hành như một ngân hàng trung ương thực thụ. Tình trạng này bắt nguồn từ các yếu tố ***** và kỹ thuật. Về mặt *****, Ngân hàng Nhà nước thiếu tính độc lập để có thể thực hiện các chính sách thuần túy dựa vào các tiêu chí nghiệp vụ và ít chịu ảnh hưởng của sức ép bên ngoài. Kể từ năm 1997, hầu như tất cả các nước Đông Nam Á đã tăng cường tính độc lập cho ngân hàng trung ương của họ với các mức độ khác nhau. Trong khi đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vẫn thiếu tính độc lập trên cả bốn phương diện quan trọng là mục tiêu, công cụ, tài chính, và nhân sự. Về mặt kỹ thuật, năng lực của Ngân hàng Nhà nước cũng còn rất hạn chế. Thậm chí Ngân hàng Nhà nước thiếu tự tin ngay cả đối với các công cụ chính sách của mình, và do vậy phải viện đến các biện pháp quản lý mang nặng tính hành chính (chẳng hạn như Quyết định 03 về tín dụng đầu tư chứng khoán). Các biện pháp hành chính này phản chiếu tư duy “kế hoạch hóa tập trung” đối với chính sách tiền tệ không còn thích hợp với nền kinh tế thị trường và toàn cầu giờ đây đã trở nên phức tạp hơn trước rất nhiều. Ngân hàng Nhà nước cần tìm cách sử dụng công cụ lãi suất và nghiệp vụ thị trường mở một cách hiệu quả hơn, nhưng điều này cũng có nghĩa là hoạt động của Ngân hàng Nhà nước sẽ trở nên minh bạch và có trách nhiệm hơn.
Quản lý ngân hàng trung ương trong nền kinh tế thị trường hiện đại là một hoạt động có tính chuyên môn hóa rất cao. Vì vậy, để nâng cao năng lực, Ngân hàng Nhà nước nên xem xét việc thuê chuyên gia tư vấn cao cấp từ bên ngoài. Hoạt động của ngân hàng trung ương trên thế giới đã có những thay đổi cơ bản trong 15 - 20 năm trở lại đây, và các ngân hàng trung ương trong khu vực ASEAN đã phản ứng lại một cách chủ động trước những thay đổi này. Họ đã cơ cấu lại tổ chức, hoạt động và nhân sự. Họ cũng đã viện đền sự giúp đỡ về kỹ thuật của một số chuyên gia quốc tế hàng đầu về ngân hàng trung ương. Mặc dù việc thuê chuyên gia nước ngoài khá đắt nhưng vẫn còn rẻ hơn rất nhiều so với cái giá phải trả khi xây dựng một ngân hàng trung ương mà không có sự dẫn dắt của các chuyên gia giàu kinh nghiệm. Để tránh xung đột lợi ích và đảm bảo tính bảo mật và làm chủ chính sách khi thuê chuyên gia nước ngoài, chính phủ Việt Nam nên tự mình lựa chọn và trả lương cho chuyên gia chứ không nên dựa vào nguồn tài trợ của các tổ chức quốc tế. Một số ngân hàng trung ương trong khu vực ASEAN như Ngân hàng Trung ương Sing-ga-po (Monetary Authority of Singapore) và ngân hàng Trung ương Ma-lai-xia (Bank Negara Malaysia) có thể giúp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tìm được những chuyên gia thích hợp.
4. Kiểm soát đầu tư công
Như đã phân tích, đầu tư công kém hiệu quả là một nguyên nhân gây ra lạm phát. Chính phủ đã phê duyệt một danh sách các dự án đầu tư công đầy tham vọng từ nay cho tới 2015 với tổng số vốn ước tính lên tới 70 tỷ USD. Để đảm bảo lượng vốn khổng lồ này được sử dụng hiệu quả, chính phủ cần:
- Xây dựng danh mục các dự án ưu tiên đầu tư căn cứ theo tiêu thức hiệu quả kinh tế. Đồng thời, cũng cần xây dựng các phương án dự phòng khi xảy ra tình huống xấu (chẳng hạn như danh mục các dự án cần cắt giảm khi điều kiện trở nên khó khăn). Một số nước ASEAN đã từng sử dụng danh mục dự án ưu tiên khi nền kinh tế của các nước này rơi vào tình trạng bất ổn.
- Kiểm soát chặt các dự án vay thương mại trên thị trờng tài chính quốc tế của các tập đoàn, DN nhà nước, hay dự án đầu tư công.
- Thực hiện hoạt động thẩm định và kiểm toán đầu tư công độc lập, sau đó công khai hóa các thông tin về thẩm định và kiểm toán này.
5. Giảm bong bóng bất động sản
Bong bóng bất động sản đang là một mối đe dọa cho sự ổn định kinh tế và ***** của Việt Nam. Nếu để bong bóng vỡ như trong cuộc khủng hoảng năm 1997 - 98 thì hậu quả thật khôn lường vì khi ấy, giá tài sản giảm đột ngột sẽ làm tăng nợ xấu của ngân hàng, khiến một số ngân hàng phá sản, và do vậy ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế thực. Vì vậy, khôn ngoan nhất là “xì hơi” bong bóng một cách từ từ. Cách tốt nhất để xì hơi bong bóng là đánh thuế bất động sản. Bên cạnh đó, cần thắt chặt và kiểm soát sát sao các khoản tín dụng đầu tư bất động sản và các khoản cho vay được thế chấp bằng bất động sản.
Về phía cung, các quy định về quy hoạch, sử dụng đất, và phát triển cơ sở hạ tầng cần được công khai ở mức độ cao nhất để tránh tình trạng quan chức nhà nước cấu kết với các nhà đầu tư tư nhân tạo ra tình trạng khan hiếm nguồn cung giả tạo để trục lợi.
Sửa bởi hoa phu - 08/07/2008 lúc 07:08 |
|
|
Dám chơi dám chịu
|
Số vàng tặng cho bài viết này (cho điểm) : 15 Lượng
|
|
hoa phu
Thành viên tích cực
Online:
Bài viết: 475
Gia nhập: 16/3/2008
Giới tính: Nam  Ngân quỹ: 207 Lượng
Nhà đầu tư mới
|
Gửi: 08/07/2008 lúc 07:13 Th.báo nội dung xấu | Bình chọn bài viết |
|
Giang Lê -- tháng 07, 2008 --
Barry Eichengreen, giáo sư kinh tế đại học Berkerley, cho rằng ngân hàng trung ương các nước châu Á trong đó có NHNN VN đang chống lạm phát một cách nửa vời (half-hearted) khi chưa tăng lãi suất danh nghĩa (nominal interest rate) đủ cao nên lãi suất thực (real interest rate) vẫn âm. Trong trường hợp VN, Eichengreen dùng lãi suất cơ bản do NHNN công bố (14%) trừ đi lạm phát tháng 5/2008 so với cùng kỳ năm trước (25%), do vậy lãi suât thực là -11%. Để có thể chống lạm phát một cách hiệu quả, Eichengreen cho rằng các ngân hàng trung ương này cần tiếp tục tăng lãi suất cho đến khi nào lãi suất thực trở nên dương. Mặc dù lời khuyên của Eichengreen là một qui tắc chuẩn khi điều hành chính sách tiền tệ, đằng sau nó có rất nhiều vấn đề cần làm sáng tỏ cho các nhà hoạch định chính sách VN.
Về lý thuyết, lãi suất thực được định nghĩa là lãi suất danh nghĩa trừ đi kỳ vọng lạm phát. Tuy nhiên chúng ta đều biết trên thực tế có rất nhiều loại lãi suất danh nghĩa (từ đây đến cuối bài, “lãi suất danh nghĩa” sẽ được viết gọn là “lãi suất” nếu ngữ cảnh cho phép), từ lãi suất cơ bản mà NHNN công bố, lãi suất huy động của các NHTM, lãi suất cho vay thương mại, đến lãi suất qua đêm liên ngân hàng. Bởi vậy, sử dụng lãi suất nào cho công thức tính lãi suất thực mà Eichengreen đề nghị là một vấn đề rất quan trọng vì các loại lãi suất khác nhau có thể có chênh lệch rất lớn. Ngoài ra lãi suất thực tế (effective interest rates) sau khi tính gộp các loại phí (chính thức và không chính thức) và ảnh hưởng của các biến dạng (distortions) trong thị trường vốn có thể khác rất nhiều so với con số được công bố.
Kỳ vọng lạm phát còn phức tạp hơn nhiều. Trên thực tế không tồn tại một thước đo chính xác cho khái niệm này và nhiều người, kể cả Eichengreen, sử dụng lạm phát tính từ Chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index - CPI) trong cùng thời điểm thay cho kỳ vọng lạm phát. Điều này liên quan đến hai vấn đề không dễ dàng giải quyết. Thứ nhất, về mặt lý thuyết dùng lạm phát hiện thời thay cho kỳ vọng lạm phát chỉ đúng nếu mọi đối tượng của nền kinh tế (doanh nghiệp, người tiêu dùng) có kỳ vọng hợp lý (rational expectation) và có thông tin đầy đủ (symmetric information). Hai điều kiện này rất khó tồn tại trên thực tế như nhiều tác giả đã chỉ ra. Thứ hai, ngoài CPI hầu hết các nước còn có các chỉ số lạm phát khác như PPI, WPI, các chỉ số trượt giá tổng quát (deflators). Chỉ riêng với CPI nhiều nước còn phân biệt Headline CPI (Chỉ số giá tiêu dùng toàn phần) với Core CPI (Chỉ số giá tiêu dùng cơ bản), hay unadjusted CPI (Chỉ số giá tiêu dùng nguyên gốc) với seasonally adjusted CPI (Chỉ số giá tiêu dùng đã hiệu chỉnh yết tố mùa vụ). Vậy cái tiêu chí “lãi suất thực dương” sẽ rất mơ hồ nếu không xác định rõ cấu thành của nó là gì, nhất là trong bối cảnh của VN hiện nay lãi suât thực có thể dễ dàng chuyển từ âm sang dương nếu hai cấu thành của nó thay đổi. Bài viết này sẽ thảo luận một số vấn đề liên quan đến hai cấu thành của công thức tính “lãi suất thực”.
Kỳ vọng lạm phát
Chống lạm phát là một trong những nhiệm vụ chính của các ngân hàng trung ương phải đảm nhiệm thông qua chính sách tiền tệ của mình. Tuy mục tiêu và phương thức hoạch định chính sách tiền tệ có khác nhau, hầu hết các ngân hàng trung ương đều nhìn nhận kỳ vọng lạm phát là điểm mấu chốt trong việc quyết định chính sách tiền tệ. Làm thế nào đo được kỳ vọng lạm phát là điều cả giới học thuật lẫn các nhà hoạch định chính sách (central bankers) vẫn chưa có sự thống nhất. Mặc dù có nhiều cuộc khảo sát thường kỳ (periodic survey) về kỳ vọng lạm phát, hầu hết các ngân hàng trung uơng chỉ coi đây là thông tin tham khảo chứ không dựa vào đó để ra quyết định. Trong hầu hết các trường hợp, hàm chính sách (policy function) của các ngân hàng trung ương, ví dụ như công thức Taylor (Taylor’s rule), đều sử dụng thông tin trực tiếp từ CPI. Vì ngân hàng trung ương là cơ quan có khả năng và trách nhiệm điều chỉnh “lãi suất thực” nên mặc dù họ không đưa ra đánh giá về kỳ vọng lạm phát, thước đo lạm phát mà họ sử dụng sẽ là công cụ thích hợp nhất đại diện cho kỳ vọng lạm phát mà Eichengreen cần sử dụng.
Ở Mỹ, FED chọn Chỉ số trượt giá tổng tiêu dùng cá nhân (Personal Consumption Expenditure deflator - PCE deflator) làm cơ sở cho các quyết định của mình. Chỉ số này rộng hơn CPI và không bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi thói quen tiêu dùng trong dân chúng nên nó là thước đo rất tốt cho tình trạng lạm phát hiện thời. Với đa số các nước khác, ngân hàng trung ương thường sử dụng CPI đã được hiệu chỉnh yếu tố mùa vụ (seasonally adjusted CPI) vì không có được số liệu PCE deflator tốt như của Mỹ. Điều đáng lưu ý là FED và một số ngân hàng trung ương như RBA của Úc, RNZ của New Zealand, BoJ của Nhật loại bỏ một số loại hàng hóa có độ biến thiên lớn (lương thực, năng lượng, lãi suất mua nhà) ra khỏi giỏ hàng hóa tính CPI hay PCED và gọi chỉ số này là core inflation (lạm phát cơ bản). Lập luận của những ngân hàng này là những thành phần nói trên mặc dù có mức độ dao động lớn nhưng về lâu dài không làm ảnh hưởng đến xu hướng chung của lạm phát, bởi vậy không ảnh hưởng đến kỳ vọng lạm phát. Ngoài ra sự biến động của những yếu tố này thường nằm ngoài khả năng kiểm soát và tầm ảnh hưởng của các ngân hàng trung ương (ví dụ thiên tai dịch bệnh ảnh hưởng đến giá lương thực) nên đằng nào họ cũng không thể can thiệp được.
Ảnh hưởng của việc loại bỏ các yếu tố có độ biến thiên lớn ra khỏi rổ hàng hóa tính CPI rất quan trọng cho VN. Hiện tại chỉ riêng lương thực thực phẩm đã chiếm 42.85% và giá lương thực thực phẩm của Việt nam có độ biến thiên cao hơn so với nhiều nước. Tác giả bài viết này sử dụng số liệu rổ CPI chi tiết do IMF tính toán và công bố từ tháng 1/2000 đến tháng 8/2007 để loại trừ lương thực thực phẩm. Kết quả là độ biến thiên (standard deviation) của lạm phát tính theo core CPI giảm xuống còn 0.44%/tháng so với 0.74% nếu dùng headline CPI. Nếu dùng số liệu CPI do Tổng cục Thống kê (TCTK) công bố cho 6 tháng đầu năm, core inflation (loại trừ lương thực thực phẩm) của VN trong 6 tháng đầu năm 2008 là 7.95% so với 18.44% headline inflation. Riêng trong tháng 6/2008, core inflation sẽ là 1.18% so với 2.14%. Tóm lại nếu NHNN có cùng quan điểm với FED, BoJ, hay RBA về thước đo lạm phát cho chính sách tiền tệ, con số lãi suất thực trong bài toán chính sách của NHNN có thể sẽ dương vì core inflation của VN hiện tại thấp hơn headline inflation rất nhiều. Thêm vào đó chính sách tiền tệ của NHNN cũng sẽ ổn định hơn vì mục tiêu của chính sách (core inflation) có độ biến thiên giảm hơn 40% như đã nêu ở trên (xem đồ thị bên dưới).

Bên cạnh quan điểm cần sử dụng core inflation, ECB (châu Âu) và BoE (Anh) lại cho rằng những yếu tố có biến động lớn trong rổ hàng hóa tính CPI chính là những mặt hàng mà người tiêu dùng thường xuyên phải mua. Bởi vậy nếu chống lạm phát là để bảo vệ mức sống của người dân thì mục tiêu phải là headline inflation (lạm phát toàn phần) chứ không phải core inflation như FED đặt ra. Một điều thú vị là Riksbank của Thụy điển, mặc dù hiện tại đang sử dụng core inflation, đã lên kế hoạch chuyển sang dùng headline inflation trong vài tháng tới. Ngược lại, Norgebank của nước láng giềng Nauy lại chuyển từ headline sang core inflation (loại trừ năng lượng và ảnh hưởng của thuế). Để đối phó với độ biến thiên lớn của headline inflation, ECB và BoE nhắm đến lạm phát trong trung hạn (6-18 tháng), nghĩa là nếu lạm phát trước mắt tăng cao nhưng dự báo các yếu tố vĩ mô trong trung hạn có xu hướng làm giảm áp lực lên mặt bằng giá thì ECB và BoE cũng không nhất thiết phải tăng lãi suất ngay lập tức. Cách làm này thật ra là một cách dự báo kỳ vọng lạm phát bằng số liệu headline inflation hiện tại và các tham số kinh tế vĩ mô khác. Điều này về mặt lý thuyết có vẻ như ưu việt hơn cách dùng core inflation của FED, tuy nhiên nó đòi hỏi khả năng dự báo lạm phát tương đối tốt và các thống kê kinh tế vĩ mô phải được cập nhật đầy đủ và chính xác.
Tuy không công bố chính thức, dường như NHNN VN đang sử dụng headline inflation chưa được hiệu chỉnh yếu tố mùa vụ cho việc hoạch định chính sách tiền tệ. Điều này về bản chất thì không sai (theo quan điểm của ECB và BoE), nhưng khi áp dụng headline inflation hiện tại thay vì dùng dự báo trung hạn chính sách tiền tệ dễ có những biến động không cần thiết, nhất là trong những thời điểm giá cả thay đổi mạnh như hiện nay. Chưa tính đến việc thiếu khả năng dự báo headline inflation trong trung hạn, chỉ riêng việc không loại bỏ yếu tố mùa vụ từ headline inflation cũng làm chính sách tiền tệ biến động khá nhiều. Tác giả bài viết này sử dụng chương trình X12-ARIMA của Cục Điều tra dân số Mỹ (US Bureau of Census) để loại bỏ yếu tố mùa vụ khỏi chuỗi headline CPI của VN từ tháng 1/1995 đến 6/2008. Kết quả là độ biến thiên (standard deviation) của chuỗi lạm phát được hiệu chỉnh bằng 0.71%/tháng so với 0.97% của chuỗi chưa hiệu chỉnh, giảm hơn 20%. Trong 6 tháng đầu năm 2008, lạm phát sau khi được hiệu chỉnh yếu tố mùa vụ sẽ là 16.79% so với 18.44% khi chưa hiệu chỉnh.

Tóm lại việc xác định kỳ vọng lạm phát ngay cả với các ngân hàng trung ương cũng là một vấn đề khó khăn và con số cuối cùng của Việt nam có thể khác xa con số 25% mà Eichengreen đưa ra. Tùy theo quan điểm của NHNN, nó có thể dao động từ 15.9% đến 33.58%/năm trong thời điểm hiện tại. Nếu dự báo trung hạn cho lạm phát được sử dung, nhiều khả năng khoảng dao động này sẽ giảm đi vì tình hình vĩ mô cho thấy tăng trưởng của VN sẽ có sự sụt giảm đáng kể. (Lưu ý: những con số này chỉ có tính chất tham khảo vì cả số liệu lẫn phương phát tính toán mà tác giả bài viết này sử dụng không phải là số liệu và phương pháp chính thức của TCTK hay NHNN VN).
Lãi suất danh nghĩa
Thị trường tài chính thường phân biệt ba loại lãi suất chính: (i) lãi suất chính sách, là lãi suất mà các ngân hàng trung ương có thể kiểm soát được trực tiếp, ví dụ như Fed fund rate ở Mỹ hay lãi suất cơ bản ở VN, (ii) lãi suất liên ngân hàng, là lãi suất mà các NHTM cho vay lẫn nhau, thường không có thế chấp, ví dụ LIBOR, TIBOR, VIBOR, (iii) lãi suất thương mại, là lãi suất mà các NHTM vay hoặc cho vay đối với các đối tượng không phải ngân hàng trong nền kinh tế, ví dụ lãi suât huy động, lãi suất cho vay. Về cơ bản ba loại lãi suất này có liên hệ mật thiết với nhau và thường tuân thủ theo nguyên tắc (i)<(ii)<(iii). Tuy trong một vài thời điểm đặc biệt mối quan hệ này có thể bị phá vỡ tạm thời, nhưng nếu nó bị phá vỡ trong một thời gian dài thì đó là dấu hiệu không tốt cho hệ thống ngân hàng và chắc chắn là dòng vốn đang không được lưu thông một cách tự do và hiệu quả.
Thông thường khi ngân hàng trung ương thay đổi chính sách tiền tệ, (i) thay đổi và sẽ nhanh chóng kéo theo (ii) thay đổi tương ứng nếu ngân hàng trung ương cam kết bảo vệ (i) thông qua OMO và LOLR. Ảnh hưởng từ (ii) vào (iii) cũng chỉ xảy ra trong ngắn hạn, vài ngày đến vài tuần. Tuy nhiên ảnh hưởng của (iii) vào các hoạt động kinh tế và cuối cùng là lạm phát và tăng trưởng sẽ mất thời gian hơn, từ vài tháng đến 1-2 năm (xem thêm Update 3 trong bài viết trước). Một điểm rất quan trọng là mối liên hệ giữa (iii) và nền kinh tế không tuân theo một qui luật cứng nhắc mà phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng vĩ mô hiện tại và môi trường kinh tế thế giới. Điều này đòi hỏi ngân hàng trung ương phải có năng lực phân tích và dự báo kinh tế rất tốt để có thể đưa ra những chính sách đúng đắn và kịp thời.
Dẫu sao, mục đích của bài viết này chỉ nhằm xác định lãi suất danh nghĩa nào cần được sử dụng nên sự phức tạp giữa (iii) và nền kinh tế sẽ được đơn giản hóa theo một qui tắc phổ biến (rule of thumb): tăng lãi suất sẽ làm giảm lạm phát vì tổng cầu (aggregate demand - AD) giảm. Các thành phần của tổng cầu gồm có: (a) tiêu dùng cá nhân, (b) đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân, (c) xuất khẩu, (d) chi tiêu chính phủ. Ảnh hưởng của lãi suất vào (d) không đáng kể vì chi tiêu chính phủ thường được lên kế hoạch trước và do quốc hội phê duyệt nên khó điều chỉnh trong ngắn hạn. Ảnh hưởng lên (c) cũng khá nhỏ trong ngắn hạn và cũng chỉ là gián tiếp trong dài hạn khi tỷ giá thay đổi. Bởi vậy ảnh hưởng quan trọng nhất của (iii) vào AD sẽ thông qua (a) và (b). Với (a) khi lãi suất tăng người dân sẽ có xu hướng tăng tiết kiệm nên (a) sẽ giảm. Còn với (b) khi lãi suất tăng các doanh nghiệp sẽ cắt giảm đầu tư vì chi phí vốn cao hơn và lợi nhuận kỳ vọng hiện thời (NPV) của dự án sẽ giảm xuống.
Rõ ràng là đối với người dân khi đi gửi tiết kiệm, lãi suất tiền gửi, hay lãi suất huy động của ngân hàng, là điều họ quan tâm. Bởi vậy với họ lãi suât thực sẽ là lãi suất huy động trừ đi kỳ vọng lạm phát tính. Nếu lấy lãi suất huy động trung bình trong thời điểm hiện tại là 18%/năm và dùng headline inflation đã được hiệu chỉnh yếu tố mùa vụ 33.58%/năm, hay thậm chí là lạm phát so với cùng kỳ năm trước 26.8%/năm như Eichengreen, thì lãi suât thực cho người dân hiện đang âm. Tuy nhiên điều này không chắc đã làm tiết kiệm giảm vì tình trạng “đô-la” hóa và “vàng” hóa rất cao trong nền kinh tế VN. Khi người dân có kỳ vọng lạm phát tăng cao, thay vì tăng tiêu dùng ngắn hạn (giảm tiết kiệm) họ chuyển sang mua đô-la và vàng để giữ giá trị số tài sản tiết kiệm được của mình. Do đó, ảnh hưởng của chính sách tiền tệ vào (a) ở VN sẽ không mạnh như ở các nước khác, nhất là trong tình trạng lạm phát tăng cao.
Còn đối với doanh nghiệp, lãi suất cho vay của ngân hàng có vẻ là điều quyết định vì đây có thể coi là chi phí vốn cho các dự án đầu tư. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh hiện tại của VN vấn đề không đơn giản như vậy. Với lãi suất cho vay thương mại, các NHTM bị buộc phải giới hạn ở mức 150% lãi suất cơ bản, nghĩa là phải dưới 21%/năm. Nhưng đây chỉ là danh nghĩa, trên thực tế lãi suất cho vay nếu tính đến giới hạn tăng trưởng tín dụng 30% cho năm 2008 mà NHNN đề ra cho tất cả các NHTM thì sẽ cao hơn con số 21% nói trên. Điều này có thể thấy được từ đồ thị cung cầu tín dụng dưới đây:

Việc áp đặt trần tín dụng sẽ làm đường cung tín dụng dịch chuyển về bên trái (từ SS thành S’S') và mức lãi suất thực tế (effective interest rate) trong thị trường tín dụng sẽ tăng từ R lên R’. R’ chắc chắn sẽ cao hơn trần cho vay 21% hiện nay đơn giản vì nếu nó nhỏ hơn NHNN sẽ không việc gì phải áp đặt trần tín dụng. Nếu vậy thị trường vốn sẽ tự điều chỉnh để mức tăng trưởng tín dụng cân bằng nhỏ hơn mức trần 30% mà NHNN mong muốn. Trên thực tế, đối với các NHTM cổ phần nhỏ có mức tăng trưởng tín dụng cho 6 tháng đầu năm đã gần bằng hoặc thậm chí vượt ngưỡng 30% như trường hợp của Techcombank, R’ phải cao tới mức không thể chấp nhận được để tín dụng không tăng trưởng trong 6 tháng còn lại. Xét về tổng thể nền kinh tế, mặc dù một số doanh nghiệp có thể vẫn vay được ở mức lãi suất 21% (mà đa số sẽ là các DNNN hoặc các công ty có mối quan hệ cánh hẩu với các NHTM), những doanh nghiệp khác khi bị ngân hàng từ chối cho vay sẽ phải vay từ các nguồn tín dụng “nóng” khác với lãi suất cao hơn trần hoặc phải cắt giảm các khoản đầu tư của mình tạo nên những mất mát vô hình cho xã hội (deadweight loss). Về bản chất, việc việc NHNN áp đặt trần tín dụng cho các NHTM tương đương với áp đặt lãi suất thực dương cho giới doanh nghiệp thông qua một biện pháp phi thị trường.
Kết luận
Trái với quan điểm của Barry Eichengreen, tác giả bài viết này cho rằng NHNN đang rất nỗ lực trong việc chống lạm phát. Mặc dù lãi suât thực có thể âm như cách tính của Eichengreen hay với một vài chỉ số khác, tác giả bài viết này tin rằng những chính sách hiện tại của NHNN VN sẽ làm lạm phát giảm trong thời gian tới. Tuy nhiên, việc thực hiện những biện pháp phi thị trường như áp đặt trần lãi suất cho vay và trần tăng trưởng tín dụng là một điều đáng tiếc. Thay vì dùng mệnh lệnh hành chính như vậy, tác giả bài viết này đồng ý với Eichengreen rằng NHNN nên tăng lãi suất cơ bản lên để kìm giữ tăng trưởng tín dụng và cũng giúp cho việc phân bổ vốn trong nền kinh tế hiệu quả hơn. Ngoài ra, việc tăng lãi suất cơ bản còn giúp cho các NHTM có thể tiếp tục tăng lãi suất huy động cho đến khi nó chắc chắn dương, từ đó giúp người dân tin tưởng hơn vào đồng VN và giảm dần tình trạng đô-la và vàng hóa nền kinh tế. Việc tăng lãi suất cơ bản cũng phù hợp với xu hướng cải cách nền kinh tế VN theo hướng thị trường và giúp cho các NHTM và doanh nghiệp có môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Giang Le
07/2008
Sửa bởi hoa phu - 08/07/2008 lúc 07:14 |
|
|
Dám chơi dám chịu
|
Số vàng tặng cho bài viết này (cho điểm) : 5 Lượng
|
|
hoa phu
Thành viên tích cực
Online:
Bài viết: 475
Gia nhập: 16/3/2008
Giới tính: Nam  Ngân quỹ: 207 Lượng
Nhà đầu tư mới
|
Gửi: 08/07/2008 lúc 08:07 Th.báo nội dung xấu | Bình chọn bài viết |
Giang Lê -- tháng 05, 2008 --
Xin chân thành cám ơn các anh chị và các bạn đã đọc và góp ý cho phần đầu bài viết này. Mục tiêu của tác giả khi viết bài này là chia sẽ một số kiến thức và kinh nghiệm của bản thân về các vấn đề liên quan đến hệ thống tiền tệ và hoạt động của ngân hàng trung ương, với các ví dụ được lấy chủ yếu từ ngân hàng trung ương Mỹ (FED). Mặc dù tác giả sẽ cố gắng phân tích các chính sách của NHNN Việt nam và những sự kiện xảy ra gần đây, bài viết đã và sẽ có nhiều hạn chế về mặt số liệu và kinh nghiệm thực tế Việt nam. Tác giả cũng giới hạn phân tích của mình trong phạm vi kinh tế học và kiềm chế không đi vào những khía cạnh ***** hay kinh tế ***** liên quan. Điều này hoàn toàn không phải vì ***** và kinh tế ***** là những vấn đề cấm kỵ hay không quan trọng với các vấn đề trong bài viêt, chỉ đơn thuần vì nó nằm ngoài phạm vi chuyên môn của tác giả. Với những mặt hạn chế như vậy, tác giả xin cáo lỗi cùng các anh chị và các bạn nếu bài viết không trả lời được những thắc mắc hay góp ý của mọi người.
Đa số các ngân hàng trung ương trên thế giới có hai chức năng chính: điều hành chính sách tiền tệ và đảm bảo sự ổn định và an toàn cho hệ thống ngân hàng thương mại nói riêng và một phần nào đó là hệ thống tài chính quốc gia nói chung. Chức năng thứ hai được thực thi qua hệ thống giám sát tính cẩn trọng (prudential supervision) của các NHTM song song với việc thực thi nghĩa vụ “người cho vay cuối cùng” (lender of last resort – LOLR) cho các NHTM có khó khăn về thanh khoản. Như đã phân tích trong bài viết trước, LOLR còn có vai trò rất quan trọng trong việc giúp ngân hàng trung ương điều hành chính sách tiền tệ thông qua việc thay đổi lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn. Nếu ngân hàng trung ương không cam kết thực hiện nghĩa vụ LOLR hoặc các NHTM không tin tưởng vào lời cam kết này thì lãi suất trên thị trường liên ngân hàng có khả năng trệch khỏi lãi suất mục tiêu mà chính sách tiền tệ muốn hướng tới. Tuy nhiên, mục đích chính của LOLR đối với tất cả các ngân hàng trung ương đã và vẫn là đảm bảo sự ổn định và an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại. Đó là chủ điểm chính của bài viết này.
Người cho vay cuối cùng – kinh nghiệm của FED
Hệ thống Cục Dự trữ Liên bang của Mỹ (Federal Reserve System – FED) được thành lập năm 1913 nhằm đối phó với các vụ sụp đổ dây chuyền trong hệ thống các NHTM Mỹ (bank runs) xảy ra vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Vào thời điểm đó FED được thành lập với nhiệm vụ chính là thực thi chức năng LOLR nhằm trợ giúp các NHTM có khó khăn về thanh khoản và phải đối đầu với nguy cơ bank run. Phương châm thực thi LOLR của FED từ đó đến nay vẫn thống nhất là nếu một NHTM gặp khó khăn về thanh khoản (liquidity) nhưng vẫn còn khả năng thanh toán (solvent) thì FED sẽ cho ngân hàng đó vay (có thế chấp) với một mức lãi suất đã được công bố trước để ngân hàng đó ổn định tình hình thanh khoản. Mức lãi suất vay từ người cho vay cuối cùng này luôn cao hơn lãi suất các NHTM có thể vay lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng nên các NHTM chỉ đến gõ cửa FED xin vay trong những tình huống hết sức khẩn cấp.
Để đổi lại quyền lợi được vay tiền trực tiếp từ FED, các NHTM Mỹ phải chấp nhận chịu sự giám sát chặt chẽ của FED và phải trích một phần số tiền huy động được của mình gửi trong một tài khoản đặc biệt tại FED gọi là Fed funds theo một tỷ lệ bắt buộc (required reserve ratio). Số tiền này không được FED trả lãi và được coi như một khoản dự trữ thanh khoản bắt buộc. Mặc dù sau này một số ngân hàng trung ương đã sử dụng việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc như là một công cụ của chính sách tiền tệ, mục tiêu ban đầu của nó chỉ đơn thuần là một cách trấn an dư luận khi một cuộc bank run có khả năng xảy ra. Trong giai đoạn từ 1914 đến 1928, với công cụ LOLR FED đã đạt được mục đích ngăn chặn nhiều vụ bank run trong hệ thống các NHTM và mô hình ngân hàng trung ương của FED trong giai đoạn này đã được nhiều nước ngưỡng mộ và tìm cách học tập như Milton Friedman và Anna Schwartz đã mô tả trong cuốn “Lịch sử tiền tệ Mỹ: 1867 – 1960”.
Tuy nhiên sau năm 1929, tình hình bank run trở nên phức tạp hơn khi nền kinh tế Mỹ bước vào giai đoạn Đại Khủng hoảng (Great Depression). Nhiều ngân hàng lúc này không chỉ bị khó khăn về thanh khoản (liquidity) mà bắt đầu mất khả năng chi trả (insolvency). Mặc dù FED vẫn cam kết thực hiện chức năng LOLR nhưng vẫn có đến hơn 40% tổng số NHTM lúc đó bị phá sản vì insolvency. Nhiều học giả sau này như Milton Friedman, George Kaufman, Barry Eichengreen, Ben Bernanke (khi ông còn là giáo sư kinh tế học tại Princeton), James Hamilton đã nhận định rằng cuộc Đại khủng hoảng năm 1929-1933 và sự đổ vỡ của hệ thống NHTM lúc đó có một phần lỗi lớn của FED vì đã thắt chặt cung tiền khi cuộc khủng hoảng xảy ra. Việc FED, với chức năng LOLR, bị ràng buộc chỉ được cứu các ngân hàng còn khả năng thanh toán (solvency) cũng đã phần nào gây ra tâm lý hoản loạn (panic) dây chuyền dẫn đến tình trạng bank run vượt ngoài tầm kiểm soát.
Sau khi Franklin Roosevelt thắng cử tổng thống năm 1932 và chương trinh New Deal được khởi xướng, hàng loạt cải tổ quan trọng đối với hệ thống tài chính và ngân hàng Mỹ đã được thực hiện. Một trong những cải tổ quan trọng nhất có lẽ là việc thành lập Công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang (Federal Deposit Insurance Corporation – FDIC). FDIC có chức năng bảo hiểm cho tất cả các khoản tiền gửi (đến một mức định trước) trong trường hợp các NHTM phá sản. Như vậy vai trò chính yếu của FDIC trong hệ thống ngân hàng là chốt chặn cuối cùng chống lại bank run dây chuyền sau cả LOLR của FED. Cũng trong giai đoạn này, một thay đổi nữa về chức năng LOLR của FED đã được đưa vào luật. Đó là FED trong trường hợp khẩn cấp có thể cho một pháp nhân không phải NHTM vay tiền từ discount window của mình để giải quyết vấn đề thanh khoản.
Sau cuộc Đại Khủng hoảng, điều luật mới này về chức năng LOLR của FED đã không được vận dụng trong suốt gần 70 năm sau đó. Cho đến ngày 17/03/2008, một ngày sau cuộc giải cứu (bail out) cho Bear Stearns, FED tuyên bố mở rộng chức năng LOLR cho 20 công ty chứng khoán hàng đầu (primary dealer) nhằm tạo thêm kênh để bơm thanh khoản vào hệ thống tài chính đang ở đỉnh điểm của subprime mortgage crisis. Công cụ này được gọi là PDCF (Primary Dealer Credit Facility) hiện vẫn còn hiệu lực. Hai công cụ tiền tệ khác (TAF and TSLF) cũng đã được FED đưa ra trước đó để giúp các NHTM và primary dealer giải quyết khó khăn thanh khoản khi LIBOR tăng cao đột suất. Bản thân việc giải cứu cho Bear Stearns của FED, tuy cũng như cuộc giải cứu cho LTCM năm 1998 đã bị khá nhiều chỉ trích, cũng nhằm mục đích ngăn chặn sự hoảng loạn (panic) dây chuyền dẫn đến khủng hoảng toàn hệ thống.
Tóm lại, xuyên suốt lịch sử của FED từ năm 1913 cho đến cuộc khủng hoảng subprime mortgage đang diễn ra vào thời điểm này, FED luôn tìm mọi cách, dù không chính thống hay đã bị quên lãng từ lâu, để giúp các NHTM nói riêng và hệ thống tài chính nói chung vượt qua các cơn khủng hoảng thanh khoản có thể dẫn tới đổ vỡ dây chuyền. Xuất phát từ chức năng “người cho vay cuối cùng” hay LOLR, FED đã không ngừng cải tiến và mở rộng các công cụ chính sách của mình để có thể đối phó với những tình huống ngày càng phức tạp xảy ra hàng ngày trong hệ thống tài chính ngân hàng hiện đại. FED có thể đã có nhiều thành công cũng như thất bại, luôn phải đối mặt với nhiều lời phê phán và chỉ trích của giới học giả, doanh nhân, ***** gia, nhưng có một điểm bất kỳ ai cũng đồng ý là FED đã hoàn thành tốt chức năng LOLR của mình và không ai nghi ngờ vào cam kết người cho vay cuối cùng của FED. Lòng tin vào FED là một trong những nền tảng của hệ thống tài chính ngân hàng Mỹ - một hệ thống phức tạp và phát triển nhất thế giới cho đến thời điểm này.
Bài học cho Việt nam
Cũng như FED, NHNN Việt nam được trang bị chức năng LOLR với lãi suất tái cấp vốn như một cứu cánh cho các NHTM khi gặp khó khăn thanh khoản. NHNN cũng có chức năng giám sát cẩn trọng (prudential supervision) đối với các NHTM và cũng nắm quyền điều hành tỷ lệ dự trữ bắt buộc và tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản. Việt nam cũng đã thành lập cơ quan bảo hiểm tiền gửi độc lập cách đây vài năm với hình thức hoạt động giống hệt như FDIC. Nhìn chung, khung khổ pháp lý và cơ chế vận hành của NHNN và hệ thống tiền tệ của Việt nam đã được học hỏi và kế thừa kinh nghiệm của nhiều ngân hàng trung ương tiên tiến trên thế giới. Tuy nhiên điều mà NHNN Việt nam còn thiếu là sự tin tưởng của người dân và các NHTM vào khả năng cũng như sự nhất quán của mình.
Đầu tháng 2/2008, sau khi số liệu về lạm phát năm 2007 và tháng 1/2008 được công bố gây sửng sốt trong dân chúng và cả nhiều nhà hoạch định chính sách, NHNN đã đột ngột thắt chặt chính sách tiền tệ làm tình hình thanh khoản trong hệ thống ngân hàng xấu đi nhanh chóng. Với tình hình lạm phát cao, nhiều khả năng bắt nguồn từ nguyên nhân nới lỏng tiền tệ trong những năm trước đó như nhiều nhà kinh tế đã chỉ ra, thắt chặt tiền tệ vào lúc này là một chính sách đúng đắn và cần thiết. Tuy nhiên cách thức thực thi chính sách này của NHNN đã tạo ra một cú sốc lớn trong hệ thông ngân hàng vì nó quá bất ngờ và quá quyết liệt.
Trong lịch sử của FED, một chu kỳ thắt chặt hay nới lỏng tiền tệ có thể làm lãi suất thay đổi hơn 10% (gần đây là 4-5%) nhưng chưa bao giờ, ngay cả trong các cuộc khủng hoảng, FED đã từng cắt hay tăng lãi suất quá 1% trong một lần thay đổi Fed funds rate. Thường một chu kỳ cắt hay tăng lãi suất được rải đều trong khoảng 5-15 lần thay đổi, mỗi lần từ 0.25% đến 0.5%. Việc giãn các thay đổi lãi suất như vậy giúp các NHTM có thời gian thích ứng với môi trường tiền tệ mới mà FED mong muốn và giúp cho sự phân bổ lại thanh khoản trong nền kinh tế với tình hình lãi suất mới không xảy ra quá đột ngột. Bên cạnh việc giãn các hoạt động cắt hoặc tăng lãi suất, FED còn tìm cách “gợi ý” cho các NHTM biết trước xu hướng điều hành tiền tệ của mình bằng các thông báo về quan điểm tiền tệ (policy stand) trong các biên bản họp được công bố ra công chúng và những phát biểu có tính toán của các quan chức FED. Ví dụ, vào thời điểm hiện tại (tháng 5/2008) giới tài chính ngân hàng Mỹ đã nhận được tín hiệu về việc chấm dứt chu kỳ cắt giảm lãi suất thông qua một số phát biểu của các quan chức FED như Donald Kohn hay Frederic Mishkin và qua biên bản cuộc họp cắt lãi suất cuối cùng của FOMC.
Rất tiếc trong đợt thắt chặt tiền tệ vừa rồi NHNN chưa học được cách xử lý khéo léo như FED và cuộc khủng hoảng thanh khoản hiện thời là hậu quả tất yếu của sự vụng về của NHNN Việt nam. Điều này không chỉ gây khó khăn cho các NHTM và các doanh nghiệp có các hoạt động tín dụng vào thời điểm này, nó còn làm sói mòn uy tín của NHNN trong mắt các NHTM và cả trong dân chúng. Kể từ đây, các NHTM sẽ phải luôn dè chừng những thay đổi chính sách đột ngột như vậy của NHNN và sẽ phải để thêm một khoản dự phòng cho những cuộc khủng hoảng tương tự trong tương lai. Vì cuộc khủng hoảng thanh khoản đã làm tăng mức độ rủi ro của hầu hết các NHTM, cũng kể từ đây các khoản cho vay sẽ phải mang thêm một khoản phí rủi ro (risk premium) không đáng có, làm tăng thêm gánh nặng cho doanh nghiệp và người tiêu dùng khi phải vay tiền từ ngân hàng.
Không chỉ dừng lại ở việc tạo ra cuộc khủng hoảng thanh khoản, NHNN sau đó đã rất lúng túng khi xử lý nó và cuối cùng đã quay lại với cách thức điều hành bằng mệnh lệnh hành chính của thời kỳ bao cấp. Việc áp đặt lãi suất trần huy động 12%/năm dường như là một biện pháp đối phó vội vàng của NHNN nhằm ngăn chặn cuộc chạy đua lãi suất huy động của các NHTM. Biện pháp này vừa làm cuộc khủng hoảng thanh khoản thêm xấu đi vừa đi ngược lại những cố gắng thắt chặt tièn tệ mà NHNN mới thực hiện trước đó. Đáng lý ra, cuộc khủng hoảng này có thể được giải tỏa nhanh chóng nếu NHNN thực hiện đúng chức năng LOLR của mình cho tất cả các NHTM có nhu cầu tăng thanh khoản. Tuy nhiên vì một lý do nào đó, mà rất có thể là sức ép từ phía chính phủ không muốn tăng lãi suất lên nữa để đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế, đã ngăn cản NHNN thực hiện chức năng LOLR của mình.
Đến thời điểm này, NHNN đã tăng lãi suất tái cấp vốn lên 13%/năm nhưng vẫn chưa có dấu hiệu nào cho thấy NHNN sẽ mở cửa cho tất cả các NHTM vay với lãi suất này một cách tự do và bình đẳng. Ngay cả việc tái chiết khấu trái phiếu chính phủ, các NHTM nhỏ cũng bị thiệt thòi rất nhiều khi NHNN đưa ra hình thức đấu thầu theo khối lượng. Dường như NHNN đang cố gắng áp đặt cả lãi suất lẫn lượng thanh khoản lưu thông trong hệ thống quá xa khỏi điểm cân bằng (equilibrium), điều mà chỉ có thể thực hiện được nếu NHNN tiếp tục can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính. Tất nhiên, sau một thời gian, hệ thống ngân hàng và nền kinh tế sẽ tự điều chỉnh để thỏa mãn các yêu cầu của NHNN nhưng cái giá phải trả sẽ là sự méo mó (distortion) trong phân bổ nguồn lực (mà ở đây là nguồn vốn) cho nền kinh tế. Đây cũng là một bước lùi trong công cuộc cải tổ nền kinh tế Việt nam theo hướng thị trường và làm suy giảm lòng tin của dân chúng và doanh nghiệp vào NHNN.
Giang Le
05/2008
Update: Sau khi bài viết này được đăng trên Minh Biện, ngày 30/05/2008 báo điện tử VNEconomy (Thời báo Kinh tế Việt nam) đã đăng bài “Ngân hàng Nhà nước đã cung và rút tiền như thế nào?” tóm lược buổi chất vấn của Quốc hội với Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu.
Trả lời cho câu hỏi có phải việc thắt chặt chính sách tiền tệ đã diễn ra quá đột ngột làm xáo trộn hệ thống ngân hàng và gây khó khăn cho nhiều doanh nghiệp hay không, ông Giàu đã cho biết: “…chính sách thắt chặt tiền tệ đã được “phát tín hiệu” từ trước đó. Cụ thể, ngày 28/5/2007, thấy tín hiệu tiền thừa trong lưu thông, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ra quyết định tăng dự trữ bắt buộc lên gấp đôi. “Có nghĩa từ đây đã phát tín hiệu hoàn toàn thắt chặt chính sách tiền tệ”….. Sau đó, ngày 1/8/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị 18; đến ngày 31/10/2007, Thủ tướng ra tiếp Chỉ thị số 23 thể hiện định hướng thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát… Những tín hiệu trên đã tạo một độ trễ nhất định để các ngân hàng và doanh nghiệp chủ động với bối cảnh mới. Trong các quyết định tăng dự trữ bắt buộc, phát hành tín phiếu bắt buộc để hút tiền về, Ngân hàng Nhà nước cũng đã tạo một độ trên từ trễ 1 đến gần 2 tháng để các ngân hàng chuẩn bị.”
Với thông tin mới này, tác giả bài viết xin rút lại nhận định của mình về việc NHNN đã không “gợi ý” trước policy stand về chính sách tiền tệ cho các NHTM và doanh nghiệp biết trước. Theo thông tin Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cung cấp thì NHNN đã “phát tín hiệu” trước đó hơn nửa năm. Nếu thực sự các NHTM đã nhận được tín hiệu từ nhiều tháng trước như vậy mà vẫn lúng túng để rơi vào tình trạng thiếu thanh khoản trầm trọng thì vấn đề lòng tin của các NHTM vào NHNN càng đáng lo ngại. Có thể thấy rằng các tuyên bố của cả Chính phủ lẫn NHNN về chính sách thắt chặt tiền tệ đã không tạo được sự tin tưởng (credibility) cần thiết nên các NHTM vẫn tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng rất cao trong năm 2007.
Một nhận định khác của tác giả là NHNN đã không thực hiện đầy đủ và công bằng chức năng LOLR với tất cả các NHTM. Tuy nhiên, cũng theo bài báo trên, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cho biết: “…hiện tại tính thanh khoản của các ngân hàng, sau loạt kế hoạch rút tiền thắt chặt tiền tệ, vẫn đảm bảo bình thường và không có nguy cơ đổ vỡ hệ thống. Tuy nhiên … một số ngân hàng mới chuyển đổi từ mô hình nông thôn lên đô thị chưa chuẩn bị kịp đã gặp phải một số khó khăn; Ngân hàng Nhà nước đã và đang có sự hỗ trợ cần thiết.” Nếu điều này thực sự xảy ra, tác giả sẵn sàng rút lại ý kiến của mình và thực tâm mừng cho sự tiến bộ của NHNN. Tuy vậy, có nhiều diễn biến trên thị trường ngân hàng không ủng hộ lời phát biểu của Thống đốc Nguyễn Văn Giàu.”
Thứ nhất lãi suất liên ngân hàng vẫn tiếp tục cao hơn lãi suât tái cấp vốn của NHNN. Việc các NHTM phải chấp nhận vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao hơn chứng tỏ không phải ngân hàng nào cũng có thể vay tiền từ NHNN với lý do thanh khoản. Thứ hai, lãi suất huy động từ dân chúng vẫn được các NHTM đẩy lên cao trong hoàn cảnh nhiều NHTM đã gần đụng trần 30% tăng trưởng tín dụng cho năm 2008. Nếu các NHTM không hi vọng sẽ cho vay được thêm nữa thì họ tranh nhau huy động vốn để làm gì nếu không phải vì lý do thanh khoản. Hoặc các NHTM đang thực sự gặp khó khăn về thanh khoản và không tin tưởng NHNN sẽ thực hiện chức năng LOLR, hoặc các NHTM không tin tưởng vào trần tăng trưởng tín dụng 30% mà hi vọng NHNN sẽ nâng lên trong thời gian tới.
Tóm lại nhiều điểm trong bài trả lời chất vấn Quốc hội của Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cho thấy sự không tin tưởng của các NHTM đối với các chính sách của NHNN. Tất nhiên không thể đòi hỏi NHNN, với kinh nghiệm hoạt động trong một nền kinh tế thị trường chưa quá 20 năm, có được credibility như FED đã dày công xây dựng trong gần một thế kỷ. Nhưng đáng tiếc là NHNN dường như chưa quan tâm đến việc gây dựng lòng tin vào các chính sách và phát biểu của mình. Chừng nào chưa làm được điều này, mệnh lệnh hành chính vẫn sẽ là công cụ chủ yếu của NHNN trong việc điều hành chính sách. |
|
|
Dám chơi dám chịu
|
Số vàng tặng cho bài viết này (cho điểm) : 5 Lượng
|
|
Bat dac chi
Thành viên mới
Online:
Bài viết: 189
Gia nhập: 22/8/2008
Giới tính: Nam  Ngân quỹ: 105 Lượng
Nhà đầu tư mới
|
Gửi: 27/10/2008 lúc 20:31 Th.báo nội dung xấu | Bình chọn bài viết |
Khủng hoảng tài chính: Thế giới, Đông Nam Á, và Việt nam
Bài Viết Của Bạn Đọc -- tháng 10, 2008
Giới thiệu: Bài tổng hợp này do Chiphe (aka Chiphe3, Chiphe8) viết rải rác trong một số comments gần đây về kinh tế thế giới và Việt nam. Tựa do Minh Biện đặt.
ĐỊA CHẤN TÍN DỤNG VÀ BÃO TÁP SUY THOÁI
Ngày 6/10 sẽ tiếp tục đi vào lịch sử kinh tế thế giới như một trong những ngày tồi tệ nhất. Tất cả các thị trường chứng khoán trên thế giới sụt giảm một cách thê thảm. Chỉ số DJI của Mỹ tụt xuống dưới 10.000 điểm. Trong ba tiếng đầu, DJI mất gần 800 điểm, nhưng vào những giờ cuối đã lấy lại được một chút phong độ, tuy nhiên cũng không đưa DJI lên được trên mức 10.000.
Tất cả các thị trường CÁ sụt giảm ít nhất là 4%, với Jakarta là gần 10%. Úc và NZ đều có chung số phận với 5% sụt giảm. Nga vẫn tiếp tục có những địa chấn lớn trên 10%. Châu Mỹ La tinh gần tâm chấn ở Mỹ hiển nhiên là phải gánh chịu hậu quả với 5 % lao dốc. Ngày thứ hai đi vào lịch sử chứng khoán Châu Âu như là ngày tồi tệ nhất trong vòng 20 năm trở lại đây với đà lao dốc không phanh tốc độ đến gần 9%. Cùng lúc các thông tin về kinh tế vĩ mô của tháng 9 cũng tràn ngập màu sắc bi quan. Tăng trưởng của Mỹ trong quý 4 được revised lại là -1%, Nhật 0.3%, Châu Âu -1%.
Tin tức ảm đạm tràn ngập các trang báo. CNN, BCC, Blomberg news dành gần hết thời gian để đăng tải tin về khủng hoảng. Khi chỉ số DJI tụt xuống dưới 10.000, có thể nghe thấy rất rõ tiềng ồ lên thất vọng từ sàn chứng khoán phố Uôn. Cuộc điều trần của Lehman Brosthers tại QH Mỹ dường như đổ thêm dầu vào lửa với những lời lẽ buộc tội gay gắt của các nghị sĩ với lòng tham không đáy của các CEO. Sự hoảng sợ lan tràn. Tuy nhiên, điều đáng ngạc nhiên là tại tâm chấn Mỹ thì sự hoảng sự dường như được kiềm chế hơn là ở các nơi xa địa chấn như Châu Á, Nga, và Châu Âu.
Có thể thấy một điều rất rõ là Mỹ hành động luôn quyết đoán và mạnh mẽ trong khủng hoảng. Cái này tôi đã nhận thấy từ lâu và đã nhận xét nhiều lần. Nếu phải mất gần một năm Nhật mới thông qua được bailout để đối phó với cuộc khủng hoảng tín dụng tài chính những năm 80 thì Mỹ chỉ mất hai tuần. Nếu Châu Âu, với một đồng tiền chung, vẫn phải đối phó chật vật theo tính chất piece-meal với khủng hoảng bằng cách bailout và quốc hữu hóa từng ngân hàng một khi bị sụp, thì Mỹ chủ động thông qua một mother bailout làm trọn gói luôn và đỡ phải chạy theo từng ngân hàng khi sụp.
Mỹ còn mạnh tay hơn CÂ khi hôm qua FED tuyên bố tăng gấp đôi số tiền TAF (Term Auction Facility ) lên đến 900 tỉ đô la để khuyến khích các ngân hàng cho vay.
Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là bailout của Mỹ được thông qua đúng thời cơ. Nếu nói được thông qua hai tuần trước đây ngay khi TED đề nghị thì có lẽ sẽ không có cái thứ hai tồi tệ như ngày hôm qua. Chỉ một ngày chậm là thị trường đã khác đi rất nhiều vì hiện nay thị trường tài chính bị điều khiển bởi fear factor là chính và nếu chậm một ngày thì fear factor sẽ bị priced-in into stocks and business plan và cứ thế lan rộng.
Fear factor dường như tác động mạnh hơn ở thị trường Châu Á. Bất chấp sự lành mạnh và tinh thanh khoản cao ở các nước CÁ, các hedge funds dường như đã quá tay khi xả hàng ồ ạt, nhất là trong các lĩnh vực sản xuất xuất khẩu và commodity market vì họ dự đoán nhu cầu ở các thị trường lớn như CÂu và Mỹ sẽ giảm và vì vậy tăng trưởng trong các ngành này ở CÁ sẽ giảm. Với sự xả hàng ào ạt như vậy, về thực chất là thị trường chứng khoáng CÁ nói chung là oversold. Đây là thời điểm tốt để mua vào vì các fundemetals của các nước CÁ như TQ, Ấn độ, kể cả Việt Nam là tốt. Fear factor đã có tác đông quá đà.
Cái đáng lo ngại ở thị trường tài chính tiền tệ CÁ là sự phá giá của đồng nội tệ trong giai đoạn ngắn hiện nay khi chương trình bailout 700 tỉ chưa thực sự được thực hiện. Mỹ hiện nay, thay vì trở thành nơi in tiền cho toàn bộ thế giới, đã biến thành một nam châm hút tiền khổng lồ.
Do bên bờ vực phá sản, các chi nhánh ngân hàng, công ty của Mỹ và Châu Âu co cụm vốn về nước. Tỉ lệ guarantee cho người gửi tăng lên đến 250.000 cũng khiến đồng đô la kéo từ mọi nơi về Mỹ vì đây chỗ trú ẩn an toàn hơn so với các nơi, nhất là CÁ khi khoản bảo đảm tiền gửi không thể bao bằng Mỹ. Ngoài ra, các TED bills cũng là option an toàn cho dù với lãi xuất thấp. Vì vậy, bất chấp lãi xuất thấp và khả năng FED sẽ hạ tiếp lãi xuất khiến lãi xuất của Mỹ sẽ thấp nhất trong G-7, sau Nhật, thì đồng đô la vẫn tiếp tục bị hút về Mỹ.
Trong khi đó, một số nước đang phát triển tăng cường mua đô la đẻ cũng cố dự trữ ngoại tệ của mình. Điều này dẫn đến nghịch lý là trong khi Mỹ bị khủng hoảng thì đô la lại lên giá so với các đồng nội tệ khác (nếu so với vàng, đô la vẫn bị mất giá).
Hôm qua đồng đô la lên giá mạnh nhất trong vòng 8 tháng. Các nước CÁ bị tác động rất mạnh. Điển hình là Hàn quốc khi ngân hàng trung ương phải tung hàng tỉ đô la để giữ cho đồng nội tệ khỏi bị phá giá quá mức.
Vì vậy, trong cơn địa chấn này, những hành động quá mạnh của Mỹ tạo ra một cơn lốc cuốn đồng đô la ào ào về Mỹ, khiến các đồng nội tệ khác sụt giá thảm hại. Đây là nét đặc thù của khủng hoảng lần này.
Cơn lốc này cũng xuất hiện ở Châu Âu khi do thiếu sự phối hợp đồng bộ, một số ngân hàng TW có bảo lãnh tiền gửi cao hơn, và vì vậy, người gửi ở các nước thành viên khác ào ạt gửi tiền vào những nơi có bảo lãnh tiền gửi cao.
Lại một lần nữa nó đặt ra vấn đề phối hợp giữa các ngân hàng trung ương và chính phủ. Điều đáng buốn là đề nghị của TTg Pháp về một cuộc họp thượng đỉnh CÂu sau đó mở rộng ra toàn cầu bị Đức bác bỏ.
Cho dù một cuộc họp thượng đỉnh hoặc một cuộc họp khẩn cấp như vậy có thể chưa đem lại điều gì về vật chất để đối phó với khủng hoảng. Nhưng ít nhất nó gửi đi một tín hiệu về quyết tâm của các nước hành động trong một concerted maner rather than piece-meal efforts at the expense of others.
Trong bối cảnh trên, cuộc họp thường niên IMF-World Bank tại Mỹ ngày 10-13 October và cuộc họp G-7 bên lề ngày 10 October sẽ là nơi lý tưởng để toàn bộ các ngân hàng trung ương thế giới ra một tuyên bố chung/chính sách chung về khủng hoảng toàn cầu. Đây cũng là thời điểm để Mỹ và các nước G-7 chứng minh cho thế giới vai trò lãnh đạo kinh tế của họ. Câu hỏi cũng đặt ra là cơ chế giám sát kinh tế toàn cầu hiện nay có hợp lý không vì khủng hoảng này cho thấy toàn bộ các cơ chế giám sát toàn cầu đã không hoạt động gồm IMF hay G-7. IMF có điều kiện về pháp lý vì là tổ chức toàn cầu nhưng lại không đủ uy tín và lực. Trong khi G-7 có uy tín, có lực, thì lại thiếu vắng những nền kinh tế quan trọng như TQ, Brazil, Ấn Độ, và Nga.
BÃO SUY THOÁI ĐÃ VÀO KHU VỰC ĐNA
Quay trở lại trong khu vực ĐNA. Bão đã tràn vào trong khu vực. Indonesia lại là nước hứng chịu đầu tiên. Tuy nhiên, khác với năm 1997, các nền kinh tế ASEAN ở trong tình trạng sẵn sàng đối phó với điều kiện tốt hơn hẳn. Dự trữ ngoại hối của các ngân hàng TW đủ mạnh để đập tan bất cứ speculative attack nào. Không những thế, cơ chế hoán đổi ASEAN+3 cũng là một hàng rào phòng thủ tiếp theo tạo điều kiện cho các nước đương đầu với khủng hoảng. Nhìn chung, real economy vẫn hoạt động tốt, không bị ảnh hưởng. Individial wealth ít bị tác động vì thế domestic consumptino là mạnh. Khu vực ĐNA không có các buble lớn như BDS, chứng khoán. Một số nước với buble như Signapore, Việt Nam, Thái Lan thì đã ở trong giai đoạn cuối, đó là các ngân hàng đã có thời gian chuẩn bị để đối phó. Tóm lại, buble BDS và chứng khoán của khu vực đã được xì ra từ đầu năm. Các buble này cũng không tác động đến real economy và individual wealth. Nói cách khác, tác động của BDS và CK lên các nền kinh tế DNA là hạn chế và chỉ một số người bị ảnh hưởng trực tiếp.
Nguy cơ lớn nhất với các nước ĐNA vẫn là lạm phát, nội tệ mất giá. Tuy nhiên, với các nền kinh tế tăng trưởng quá nóng như Việt Nam, cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay khiến commodity prices giảm nhiều, trong đó có xăng dầu, đã khiến các yếu tố kéo lạm phát giảm rất nhiều.
Một điểm thuận lợi nữa của ĐNA là các nhà đầu tư lớn như Nhật, EU đã nhắm vào khu vực và lên chiến lược đầu tư dài hạn trong 10 năm tới. Trong ĐNA, Nhật nhằm mạnh nhất vào Việt Nam. Chiến lược đầu tư vào Việt Nam của Nhật là nhất quán từ CP cho đến các tập đoàn lớn. Các động thái của Nhật rất rõ ràng và kiên quyết. Cho dù trong bất cứ hoàn cảnh nào thì Việt Nam vẫn sẽ là nơi Nhật re-allocate sản xuất của họ. Sắp tới sẽ có thể diễn ra những thương vụ M&A lớn ở Nhật và ở Việt Nam trong chiến lược đầu tư của Nhật. Hôm qua, Nhật cũng sát nhập JICA và JBIC vào thành một quỹ viện trợ ODA khổng lồ. Mục tiêu của quỹ này cũng là nhắm vào DNA, trong đó Viêt Nam vì chiến lược đầu tư của Nhật bao giờ cũng đi kèm với sự đổ bộ dọn đường của ODA.
Nói rộng ra, trong lúc khủng hoảng diễn ra từng ngày từng giờ, rất cần có sự phối hợp giữa các nước thì chưa bao giờ nội bộ ASEAN lại bấn loạn như bây giờ. Nói cách khác, ASEAN đang có một cuộc khủng hoảng chính trị. Xung đột Thái Lan và Lào đã dẫn đến những cuộc đụng độ vũ trang có đổ máu. Nội bộ Thái Lan tiếp tục chìm trong bi**** bạo lực. Tranh chấp quần đảo Saba giữa Phillipines và Malaysia lại bùng phát. Chính phủ Philippines cấm toàn bộ máy bay bay qua không phận của Philippines đến Saba.
Đây là một việc hết sức đáng buồn. Vào năm 1997 khi khủng hoảng tài chính xảy ra, ASENA đã có cuộc họp thượng đỉnh khẩn cấp để bàn cách đối phó, và đã đẻ ra sáng kiến Chiang Mai initiative về thỏa thuận hoán đổi. Năm 2003 khi đại dịch SARS bùng nổ, ASEAN đã phản ứng rất nhanh cũng với một cuộc họp thượng đỉnh khẩn cấp do Thái Lan triệu tập. Kết quả là một chương trình hành động và một quỹ được thành lập.
Hiện nay ASEAN đang phải đối đầu với một cuộc khủng hoảng từ bên ngoài tràn vào. Cho dù fundementals của các nước ASEAN là hoàn toàn lành mạnh, tuy nhiên với một cuộc khủng hoảng có thể nói là the mother of all economic crisis như hiện nay thì ASEAN phải có ứng phó kịp thời.
Tuy nhiên, các nước lãnh đạo của ASEAN đang bị các mâu thuẫn chính trị giằng xé cả trong lẫn ngoài. Thậm chí cuộc họp cấp cao ASEAN năm nay, đáng ra dự kiến tổ chức ở Thái Lan, biết đâu lại phải dời đến Việt Nam. Với điều kiện chính trị bất ổn như hiện nay ở Thái Lan từ nay đến cuối năm (trong nước thì bạo lực, ngoài nước thì tranh chấp biên giới) thì không biết Thái Lan có tổ chức được không.
Nếu không thì sẽ phải đến lượt Việt Nam vì theo trật tự alphabetical order. Nhìn đi nhìn lại thì trong ASEAN hiện nay, có lẽ Việt Nam tạm thời là nơi tương đối bình yên giữa biển trời xáo động này.
Trong sự thiếu vắng một nước đưa ra các sáng kiến hợp tác khu vực để đối phó với khủng hoảng, nên chăng Việt Nam có một sáng kiến gì đó trong lúc này. Tất nhiên các bác CP hiện nay chắc cũng đang bấn lên rồi hơi đâu mà sáng kiến. Nhưng nếu làm được vẫn có lợi, cho dù chỉ là một đề nghị để ít nhất cho các nhà đầu tư nước ngoài thấy Việt Nam vẫn là nơi tương đối an toàn.
VIỆT NAM SẼ BỊ TÁC ĐỘNG NHƯ THẾ NÀO?
Rất khó dự đoán một cách chính xác trên cơ sở đo đếm được tác động của suy thoái kinh tế và khủng hoảng tài chính của Mỹ với Việt Nam.
Thứ nhất, nếu nhìn nhận từ góc độ kinh tế vĩ mô, các chỉ số kinh tế đều đã được ổn định, thặng dư tài khóa là khoảng 1.5% trên GDP, thu ngân sách tăng 10%,thâm hụt thương mại được giảm,FDI tăng gần gấp đôi, nợ nước ngoài ở mức an toàn (30% GDP), dự trữ ngoại hối tăng, lạm phát có xu hướng giảm….Tóm lại là tổng cán cân thanh toán của Việt Nam hiện nay ở mức an toàn (Toàn bộ số liệu được lấy ở các báo cáo Outlook của WB, ADB, Bloomberg)
Thứ hai, nguy cơ chính của kinh tế việt nam vẫn là lạm phát, và nguy cơ này vẫn sẽ tiếp tục trong năm 2009. Lạm phát của việt nam là do cả hai yếu tố bên ngoài (cost push) và bên trong (demand-pull).
Nếu căn cứ trên hai yếu tố đó để dự đoán thì cost push sẽ giảm trong năm 2009 do giá dầu trên thế giới giảm. Vào đầu năm 2009, nhà máy lọc dầu Dung Quất dự kiến sẽ được đưa vào hoạt động nên sẽ tiếp tục làm giảm bớt gánh nặng lên ngân sách và hạn chế yếu tố cost-push với lạm phát.
Yếu tố hai là demand-pull cũng đã và sẽ tiếp tục bị hạn chế vì với lãi xuất cao, nguồn vốn trôi nổi bị hút vào ngân hàng làm giảm chi tiêu.
Tất nhiên đồng nghĩa với lạm phát giảm là tăng trưởng giảm, không thể một mặt vừa chống lạm phát và một mặt lại duy trì tăng trưởng được. Dự đoán tăng trưởng của Viêt Nàm là 6.5% trong năm 2009. Con số QH đặt ra 7% là ảo tưởng.
Trong ba lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, và dịch vụ thì tăng trưởng trong công nghiệp là sụt giảm mạnh nhất, tiếp theo là nông nghiệp. Dịch vụ có xu hướng tăng nhưng không đáng kể. Sự sụt giảm tăng trưởng trong các lĩnh vực là nhất quán với sự sụt giảm tăng trưởng chung của toàn quốc.
Thứ ba, về trung hạn và dài hạn cái đáng lo ngại nhất với kinh tế việt nam là SMEs, sương sống và động lực phát triển kinh tế. Cần có cái hiểu đúng về SMEs. Nếu phân theo lao động, DN nhỏ là DN có lao động dưới 200 lao động. DN vừa là DN có lao động từ 200 đến 1000. DN lớn là trên 1000.
Hầu hết các DN nhỏ Việt Nam, và một phần DN vừa đã không có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng kể từ trước trước đây rất nhiều năm chứ không phải đợi đến khi lãi xuất tăng đến hơn 20% như hiện nay họ mới gặp khó khăn. Vì vậy, quan điểm rằng các DN nhỏ và vừa của Viêt Nam gặp khó khăn vì gần đây nhà nước tăng lãi xuất là chưa chính xác lắm.
Trong vòng 10 năm qua, vấn đề tiếp cận SMEs tiếp cận nguồn vốn ngân hàng luôn là vấn đề gây tranh cãi rất lớn ở Việt Nam. Hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam từ trước đây đã ít có hỗ trợ với các SMEs. Ngay cả ngân hàng phát triển nông thôn cũng chỉ dành một phần rất nhỏ để hỗ trợ SMEs. Vì vậy cách đây hai năm, NGHH Việt Nam đã tập trung xây dựng một điều luật để hỗ trợ SMEs.
Nguồn vốn chính của SMEs từ trước tới nay vẫn là các informal funding sources, một số từ các tổ chức phi chính phủ. Ỏ đây tôi không bàn sâu về vấn đề này vì có ít liên quan đến chủ đề đang được đề cập. Tuy nhiên, nói như vậy để thấy ý kiến cho rằng việc tăng lãi xuất để hạn chế lạm phát sẽ ảnh hưởng đến nhiều SMEs là không chính xác vì bản thân SMEs đã chịu cảnh thiếu vốn từ hàng chục năm nay rồi.
Cái tác động mạnh nhất với SMEs không phải là lãi xuất mà là lạm phát. Thông thường thị trường của các SMEs là thị trừong trong nước. Đầu ra và đầu vào của SMEs đều phụ thuộc vào giá cả trong nước là chính vì họ ít xuất khẩu. Vì vậy, nếu lạm phát tăng thì SMEs sẽ hứng chịu tác động nhiều nhất và sẽ phải đóng cửa nhiều nhất.
Với các DN có trên 1000 lao động, thì thường được đánh giá là có credit worthiness vì vậy họ tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng. Đây mới là các DN bị ảnh hưởng mạnh trong bối cảnh hiện nay. Tuy nhiên, điều đáng nói là các DN tư nhân có số lượng CN trên 1000 ở Việt Nam là không nhiều so với các SMEs. Vì vậy tác động về mặt lao động sẽ ít và hạn chế hơn so với SMEs.
Từ điểm phân tích trên, cho ta thấy nếu lấy chỉ số lao động làm chỉ số chính để so sánh tác động của lạm phát và lãi xuất cao thì ta sẽ thấy rất rõ là lạm phát sẽ có ảnh hưởng tiêu cực nhiều đến SMEs hơn rất nhiều so với lãi xuất. Vì bản thân SMEs đã chịu cảnh thiếu vốn trong hàng chục năm nay và nếu lạm phát tăng thì họ sẽ phải đóng cửa hàng loạt, chứ không phải lãi xuất tăng.
Một điểm khác nữa với phần nhiều lao động của SMEs với các DN lớn là phần lớn các lao động là seasonal workers. Thu nhập của họ là sự kết hợp giữa salaried work và sản xuất nông nghiệp vì phần lớn họ còn ruộng. Do vậy, kể cả trong trưởng hợp phần salaried work của họ bị giảm, họ vẫn duy trì được earnings from farm work.
Do vậy, nếu trọng tâm ưu tiên của Việt Nam để bảo vệ người lao động trong thời gian crisis và ẻmgency này thì là các DN tư nhân lớn, công nhân ở các LD với nước ngoài, và thậm chí cả công nhân các tập đoàn nhà nước.
Thứ tư, quả bóng BDS của Việt Nam đã được xì hơi. Điểm may mắn ở đây là nó được xì hơi rất sớm, chứ nếu nó nổ vào thời điểm này thì là điều đáng ngại. Tháng 9 và tháng 10 hiện nay là thời điểm dân BDS gọi là giải chấp. Hàng loạt dự án BDS sẽ bị bán ra. Các ngân hàng dính vào vụ BDS này hiển nhiên là gặp khó khăn chồng chất rồi. Tỉ lệ nợ BDS là khoảng 30%. Tuy nhiên, đây sẽ là một soft landing vì thị trường BDS và các ngân hàng đã có hơn 6 tháng để factor-in các tác động của nó.
|
|
|
Sinh ra gặp thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan
|
Số vàng tặng cho bài viết này (cho điểm) : 15 Lượng
|
|
oi_ngon_chan
Thành viên mới
Online:
Bài viết: 18
Gia nhập: 22/10/2008
Giới tính: Nam  Ngân quỹ: 44 Lượng
Nhà đầu tư mới
|
Gửi: 07/12/2008 lúc 15:15 Th.báo nội dung xấu | Bình chọn bài viết |
CN rảnh rỗi, xin post hầu các bác quan tâm đến vàng những đoạn văn trong Currency War của Song Hongbinh. Một cuốn sách nói về cuộc chiến giữa các thế lực trên thị trường tài chính.
<- ="Msonormal-" align="left" border="0" cellpadding="0" cellspacing="0">
| ->
Cho đến nay, Bill
Gates vẫn được giới truyền thông không ngừng ca tụng và được coi là người đàn
ông giàu nhất hành tinh với khối tài sản khổng lồ. Nếu tin rằng đó là sự thật
thì có nghĩa là bạn đã bị lừa dối. Bởi vì bạn sẽ chẳng bao giờ tìm thấy được
bóng dáng của các ông trùm thật sự giàu có trên bảng xếp hạng những người giàu
nhất hành tinh này, còn giới truyền thông phương Tây thì đã bị những thế lực “vô
hình” của các ông trùm kia khóa miệng. Cho đến ngày nay, gia tộc Rothschild vẫn
theo đuổi ngành ngân hàng, nhưng nếu bất chợt hỏi 100 người dân ở Bắc Kinh hay
Thượng Hải, bạn sẽ thấy rằng, có đến 99 người biết rất rõ về Ngân hàng Hoa Kỳ
trong khi chẳng một ai biết được ngân hàng Rothschild là ngân hàng nào. Rốt
cuộc, vậy ai là Rothschild? Nếu một người làm việc trong ngành tài chính
mà chưa từng nghe đến cái tên Rothschild thì chẳng khác nào một người
lính không biết Napoleon, sinh viên ngành vật lý không biết Einstein là ai
vậy. Cái tên Rothschild hết sức xa lạ đối với đa số người dân Trung
Quốc (cũng như với người Việt Nam), tuy nhiên, gia tộc này có một sức ảnh
hưởng rất lớn đối với quá khứ, hiện tại và tương lai của người dân
Trung Quốc cũng như người dân khắp nơi trên thế giới. Thông qua sự đối lập
giữa tầm ảnh hưởng và mức độc nổi tiếng của của gia tộc Rothschild đối với
thế giới hiện tại, ta có thể thấy khả năng giấu mình của dòng họ này
cao siêu đến mức nào. Rốt cuộc thì dòng họ Rothschild có bao nhiêu tài sản? Đây
vẫn là điều bí mật của thế giới. Theo tính toán sơ bộ thì con số đó là vào
khoảng 500 tỉ USD! Vậy bằng cách nào mà dòng họ Rothschild đã kiếm được khoản
tài sản khổng lồ như vậy? Đây là câu chuyện mà cuốn “Chiến tranh tiền tệ” sẽ
giãi bày cùng bạn.
"Cục
dự trữ liên bang Mỹ và các nhà tài phiệt ngân hàng nắm giữ cục dự trữ liên bang
có thể dùng khả năng điều chỉnh lãi suất nhẹ nhàng để khiến cho giá thị trường
dao động lên xuống một cách hài hòa như con lắc, cũng có thể điều chỉnh mạnh lãi
suất để khiến cho giá cả thị trường dao động dữ dội, bất kể là tình hình nào, nó
sẽ nắm giữ tin tức nội bộ của tình hình tài chính và biết trước sự thay đổi sắp
đến của sự việc. Đây là điều mà không có một chính phủ nào có thể có được, quyền
biết trước (thông tin thị trường) kỳ lạ nhất và nguy hiểm nhất mà giai cấp đặc
quyền thiểu số nắm giữ. Hệ thống này là thuộc tư hữu, toàn bộ mục đích vận hành
của nó chính là lợi dụng tiền của người khác để thu được lợi nhuận lớn nhất có
thể. Họ biết được khi nào thì có thể tạo ra khủng khoảng để đạt đến tình hình có
lợi nhất đối với họ. Tương tự, họ cũng biết phải dừng khủng hoảng vào lúc nào là
thích hợp nhất. Khi tài chính được khống chế thì việc lạm phát tiền tệ và siết
chặt tiền tệ đều có hiệu suất như nhau đối với mục đích của họ."
Hạ
nghị sĩ Charles Lindbergh
|
|
|
(Đang đi) "Ôi giá lên ôi giá lên" (Vấp phải hòn đá) "Ôi ngón chân, ôi ngón chân"
|
Số vàng tặng cho bài viết này (cho điểm) : 0 Lượng
|
|
oi_ngon_chan
Thành viên mới
Online:
Bài viết: 18
Gia nhập: 22/10/2008
Giới tính: Nam  Ngân quỹ: 44 Lượng
Nhà đầu tư mới
|
Gửi: 07/12/2008 lúc 15:16 Th.báo nội dung xấu | Bình chọn bài viết |
CUỘC CHIẾN TRĂM NĂM GIỮA NGÂN HÀNG QUỐC TẾ VÀ TỔNG THỐNG HOA KỲ
Tôi có hai kẻ thù chính: quân đội miền nam trước mặt tôi và cơ cấu tiền tệ sau lưng tôi. Trong hai thế lực này, sự uy hiếp của kẻ đứng sau lưng mới là lớn nhất. Tôi nhìn thấy một nguy cơ trong tương lai đang đến gần chúng ta, khiến chúng ta lo sợ cho sự an nguy của đất nước. Sức mạnh của đồng tiền sẽ tiếp tục thống trị và làm tổn thương đến người dân, và đến khi những đồng tiền cuối cùng tích tụ lại trong tay một số kẻ thì đất nước của chúng ta sẽ bị phá hủy. Hiện giờ tôi lo lắng cho tương lai của đất nước hơn bất cứ lúc nào, thậm chí còn hơn cả trong tình huống chiến tranh. [1]
Lincoln, Tổng thống thứ 16 của Mỹ
Nếu nói lịch sử Trung Quốc được xoay quanh bởi những cuộc đấu tranh quyền lực chính trị, và nếu không hiểu được những tính toán trong lòng các bậc đế vương thì chúng ta không thể hiểu thấu được cái tinh thần cốt lõi của lịch sử Trung Quốc. Như vậy, lịch sử phương Tây phát tiển từng bước theo sự tiến hóa của đồng tiền, nếu không hiểu được cơ mưu của đồng tiền thì không thể nắm được nguồn mạch của lịch sử phương Tây.
Quá trình lịch sử trưởng thành của nước Mỹ đầy rẫy những sự can thiệp và âm mưu của các thế lực quốc tế, trong đó, điều khiến người ta sợ nhất chính là sự thâm nhập và âm mưu lật đổ của các thế lực tài chính quốc tế đối với nước Mỹ, nhưng đây cũng là điều chẳng mấy ai biết.
Việc thiết kế và xây dựng chế độ dân chủ hầu như là hành động ngăn cản sự uy hiếp của các thế lực phong kiến chuyên chế, và đã thu được hiệu quả khả quan ở phương diện này, nhưng bản thân chế độ dân chủ lại không có được sức miễn dịch đáng tin cậy đối với những mầm bệnh chết người mới được sinh ra từ quyền lực của đồng tiền.
Khả năng phán đoán và phòng ngự của chế độ dân chủ mới đối với hướng tấn công chính của chiến lược thông qua việc khống chế quyền phát hành tiền tệ của ngân hàng quốc tế nhằm khống chế toàn bộ quốc gia đã xuất hiện những lỗ hổng lớn. “Tập đoàn lợi nhuận đặc thù siêu tiền tệ” và chính phủ do dân Mỹ chọn ra trong thời gian hơn một trăm năm trước cũng như sau cuộc nội chiến bắc nam đã tiến hành những cuộc đấu tranh quyết liệt nhằm xây dựng một định chế tài chính của hệ thống ngân hàng trung ương tư hữu Mỹ. Tổng cộng đã có tất cả 7 tổng thống Mỹ, nhiều ủy viên quốc hội khác đã bỏ mạng vì cuộc chiến giữa hai thế lực này. Các nhà sử học Mỹ đã chỉ ra rằng, tỉ lệ thương vong của các tổng thống Mỹ so với thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai còn cao hơn nhiều so với tỉ lệ thương vong bình quân của một đoàn thủy quân lục chiến!
Cùng với việc mở cửa toàn diện nền tài chính của Trung Quốc, các ngân hàng quốc tế sẽ thâm nhập sâu vào hệ thống tài chính của Trung Quốc, và câu chuyện đã xảy ra cho nước Mỹ hôm qua, liệu sẽ tiếp tục tái diễn ở Trung Quốc hôm nay?
VỤ ÁM SÁT TỔNG THỐNG LINCOHN
Tối thứ sáu ngày 14 tháng 4 năm 1865, Tổng thống Lincoln đã vượt qua được cuộc nội chiến kéo dài bốn năm đầy tang tóc trong muôn vàn nguy cơ và gian khổ. Cuối cùng, năm ngày trước khi nhận được tin thắng lợi - tướng Robert Lee thống lĩnh quân đội miền nam đã đầu hàng tướng Grant của quân miền bắc – vị tổng thống đã cảm thấy đỡ căng thẳng hơn. Và trong lúc hứng chí, ông đã đến nhà hát Ford ở Washington để xem buổi biểu diễn. Vào lúc 10 giờ 15 phút, lợi dụng lúc không có cận vệ bên cạnh, một kẻ sát thủ đã lẻn tới cạnh Tổng thống, dùng một khẩu súng cỡ lớn nhằm thẳng vào đầu ông mà bóp cò, Lincoln bị trúng đạn đổ vật về phía trước. Sáng sớm hôm sau, Tổng thống qua đời.
Hung thủ là một diễn viên có chút tiếng tăm khi đó có tên là John Wilkes Booth. Sau khi ám sát xong Lincoln thì tay này hoảng sợ bỏ trốn, ngày 26 tháng 4 hung thủ bị bắn chết trên đường bỏ trốn. Trong xe ngựa của hung thủ, người ta đã phát hiện thấy rất nhiều thư từ viết bằng mật mã và một số vận dụng cá nhân của Juda Benjamin - Bộ trưởng Bộ chiến tranh của Chính phủ miền nam và sau này là Bộ trưởng ngoại giao, một người có thực quyền về mặt tài chính ở miền nam đồng thời có mối quan hệ rất thân mật với các đại gia ngân hàng ở châu Âu. Sau đó người này đã đào tẩu sang Anh. Sự kiện Lincoln bị ám sát về sau đã được lan truyền rộng ra và nhiều người cho rằng đây là một âm mưu có quy mô lớn. Những nguời tham gia trong âm mưu này có thể là các thành viên nội các của Lincoln, các ngân hàng ở New York và Philadenphia, quan chức cao cấp của Chính phủ miền nam, giới quyền lực trong ngành xuất bản báo chí và các phần tử nổi loạn ở miền bắc.
Thời đó có một giả thuyết lan truyền rộng rãi rằng, Booth không hề bị giết chết, mà là được phóng thích, còn thi thể được mai táng sau này là người đồng mưu của anh ta. Edwin Stanton - Bộ trưởng chiến tranh nắm giữ trọng quyền khi đó đã che dấu chân tướng sự việc. Thoạt nghe thì đây có vẻ là một giả thuyết hoang đường. Thế nhưng, sau khi một loạt các văn kiện bí mật của Bộ trưởng chiến tranh được giải mã vào những năm 30 của thế kỷ 20 thì các nhà sử học đã phát hiện ra một sự thật đầy kinh ngạc về cái chết của Tổng thống Lincoln, trên thực tế chẳng khác gì lời đồn thổi của thiên hạ.
Otto Eisenschiml, nhà sử học đầu tiên chuyên nghiên cứu về đề tài này đã gây chấn động cho các đồng nghiệp trên thế giới bằng những phát hiện đầy bất ngờ trong bài viết “Tại sao Lincoln bị ám sát?”. Sau đó, Theodore Roscoe đã cho công bố kết quả nghiên cứu có sức ảnh hưởng rộng rãi hơn nữa bằng cách chỉ ra rằng:
Phần lớn các nghiên cứu lịch sử của thế kỷ 19 liên quan đến việc tổng thống Lincoln bị ám sát đều miêu tả sự việc giống như một vở bi kịch điển hình của nhà hát Ford vậy … Chỉ có một số ít nhìn nhận sự việc như là một cuộc mưu sát: Lincoln chết trong tay một tên tội phạm thô bỉ … tội phạm phải bị trừng phạt theo pháp luật; thuyết âm mưu đã bị bóp chết; cuối cùng Đức và Mỹ đã giành được thắng lợi, Lincoln cũng đã thuộc về “quá khứ”.
Thế nhưng, việc giải thích sự kiện ám sát tổng thống vừa không khiến cho người ta hài lòng vừa khó khiến cho người ta khâm phục. Thực tế cho thấy, tên tội phạm liên quan đến cái chết của Lincoln vẫn đang nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. [2]
Trong bài viết “Hành động ngu xuẩn” thuộc cuốn hồi ký của mình, Izola Forrester, cháu gái của tên hung thủ, đã nói rằng, bà phát hiện thấy ghi chép bí mật “Kỵ sĩ rạp xiếc” (Knights of the Golden Circle) đã bị Chính phủ cố ý cất vào trong kho văn kiện, đồng thời bị Edwin Stanton xếp vào loại tài liệu tuyệt mật. Sau khi Lincoln bị ám sát, bất cứ ai cũng không được tiếp cận với những tài liệu này. Do mối quan hệ huyết thống giữa Izola và Booth, hơn nữa, với tư cách là một nhà văn chuyên nghiệp, cuối cùng bà đã trở thành là người đầu tiên được phép đọc những tài liệu này. Trong cuốn sách của mình, bà đã viết rằng:
Những bao tài liệu cũ kỹ thần bí này được cất giữ trong một két bảo hiểm nằm trong góc khuất giữa nơi đặt di tích của “âm mưu thẩm phán” và căn phòng trưng bày. Nếu không phải là năm năm trước, khi đọc những tư liệu (ở căn phòng đó) mà tôi đã tình cờ nhìn thấy cạnh chiếc tủ, thì có thể chẳng bao giờ tôi biết chúng (tài liệu bí mật) tồn tại.
Những tài liệu ở đây có liên quan đến ông nội tôi. Tôi biết ông từng là thành viên của một tổ chức bí mật. Tổ chức này chính là “Kỵ sĩ rạp xiếc” do Bickley sáng tập nên. Tôi có giữ một tấm ảnh của ông - bức ảnh ông chụp chung với họ, tất cả họ đều ăn mặc chỉnh tề. Bức ảnh này được phát hiện trong quyển “kinh thánh” của bà nội tôi …tôi còn nhớ bà từng nói rằng chồng bà (Booth) là “công cụ của người khác.[3]
“Kỵ sĩ rạp xiếc” và các thế lực tài chính New York rốt cuộc có mối quan hệ như thế nào? Có bao nhiêu người trong chính phủ của Lincoln đã tham gia vào âm mưu ám sát Lincoln ? Tại sao các nghiên cứu về cái chết của Lincoln trong suốt thời gian dài luôn lạc hướng như vậy? Cái chết của Lincoln cũng giống với cái chết của Kennedy sau đó 100 năm, đều là sự phối hợp mang tính tổ chức trên quy mô lớn, mọi chứng cứ đều bị bịt đầu mối, mọi sự điều tra đều bị đánh lạc hướng một cách hệ thống, chân tướng của sự việc luôn được che phủ bởi một màn sương lịch sử dày đặc.
Muốn hiểu được động cơ và mưu đồ thực sự đằng sau việc Lincoln bị sát hại, chúng ta cần phải tìm hiểu sâu hơn những cuộc đối đầu trong nỗ lực khống chế quyền phát hành tiền tệ của quốc gia này suốt quá trình lập quốc của Mỹ.
|
|
|
(Đang đi) "Ôi giá lên ôi giá lên" (Vấp phải hòn đá) "Ôi ngón chân, ôi ngón chân"
|
Số vàng tặng cho bài viết này (cho điểm) : 0 Lượng
|
|
oi_ngon_chan
Thành viên mới
Online:
Bài viết: 18
Gia nhập: 22/10/2008
Giới tính: Nam  Ngân quỹ: 44 Lượng
Nhà đầu tư mới
|
Gửi: 07/12/2008 lúc 15:17 Th.báo nội dung xấu | Bình chọn bài viết |
QUYỀN PHÁT HÀNH TIỀN TỆ VÀ CHIẾN TRANH ĐỘC LẬP CỦA NƯỚC MỸ
Trong các cuốn sách giáo khoa lịch sử phân tích nguồn cơn của cuộc chiến tranh độc lập ở Mỹ có rất nhiều các nguyên tắc và giá trị vừa toàn diện lại vừa trừu tượng được đem ra phân tích và trình bày. Nhưng ở đây, chúng ta sẽ nhìn từ một góc độ khác để tìm hiểu sâu hơn bối cảnh tài chính cũng như vai trò hạt nhân của nó trong cuộc cách mạng này.
Đa số những người đến Mỹ mưu sinh sớm nhất chính là những cùng dân hết sức nghèo khổ, ngoài những hành lý đơn giản đem theo hầu như họ chẳng có tài sản hay tiền bạc gì. Thời đó, ở miền bắc Mỹ người ta vẫn chưa khám phá ra những mỏ vàng bạc lớn như sau này, cho nên nguồn tiền tệ lưu thông trên thị trường cực kỳ thiếu hụt. Thêm vào đó là tỉ lệ nhập siêu của Anh quốc đã khiến cho một lượng lớn tiền vàng bạc chảy về quốc gia của xứ sở sương mù này, và điều đó càng làm tăng thêm tình trạng thâm hụt lượng tiền lưu thông [4].
Phần lớn hàng hóa và dịch vụ do những người dân di cư mới của miền Bắc Mỹ làm ra từ sự lao động khổ nhọc đã không thể được trao đổi hiệu quả do thâm hụt lượng tiền lưu thông, từ đó đã gây cản trở nghiêm trọng đến bước phát triển của nền kinh tế. Để ứng phó với vấn đề nan giải này, người ta buộc phải sử dụng các loại tiền tệ thay thế khác để tiến hành mua bán hàng hóa. Chẳng hạn, các hàng hóa được chấp nhận với mức độ cao như da và lông động vật, vỏ ốc, thuốc lá, gạo, lúa mạch, ngô được sử dụng như một loại tiền. Chỉ riêng ở miền bắc Carolina, từ năm 1715 đã có hơn 17 loại hàng hóa được dùng như tiền tệ quy định (Legal Tender), Chính phủ và người dân có thể dùng những hàng hóa này để tiến hành các hoạt động giao dịch như đóng thuế, trả nợ, mua bán dịch vụ hàng hóa. Khi đó tất cả những loại tiền tệ thay thế này đều lấy đồng bảng Anh làm tiêu chuẩn tính toán. Trong hoạt động thực tế, do giá thành, quy cách, mức độ chấp nhận và tính chất có thể lưu giữ lâu của các loại hàng hóa này khác nhau, nên rất khó cho việc đo lường theo tiêu chuẩn. Ở mức độ nào đó, chúng đã cứu vãn được tình trạng thâm hụt tiền lưu thông đang cấp bách, nhưng nó cũng đã tạo nên tình trạng thắt cổ chai cho sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa.[5]
Sự thiếu hụt tiền kim loại trong thời gian dài và sự bất tiện trong việc sử dụng các loại tiền hiện vật thay thế đã thúc đẩy Chính phủ thoát ra khỏi lối tư duy truyền thống, và bắt đầu một thử nghiệm hoàn toàn mới: dùng loại tiền giấy có tên là Colonial Scrip để in tiền – loại tiền chuẩn được pháp luật quy định thống nhất. Sự khác biệt lớn nhất giữa loại tiền giấy này so với chi phiếu ngân hàng đang lưu hành ở châu Âu chính là nó không có bất cứ khoản hiện vật vàng hay bạc nào bảo đảm mà chỉ là một loại tiền tín dụng Chính phủ. Mọi người trong xã hội đều cần phải đóng thuế cho Chính phủ, mà chỉ cần Chính phủ tiếp nhận loại tiền giấy này như bằng chứng của việc nộp thuế, thì nó đã có đầy đủ các yếu tố cơ bản để lưu thông trên thị trường.
Loại tiền mới này quả nhiên đã thúc đẩy sự phát tiển nhanh chóng của nền kinh tế xã hội, các giao dịch hàng hóa cũng ngày càng trở nên nhộn nhịp.
Lúc này, Adam Smith của nước Anh cũng đã chú ý đến sự thể nghiệm tiền tệ mới này của Chính phủ thuộc địa ở bắc Mỹ, và ông hiểu khá rõ vai trò kích thích to lớn đối với thương mại của loại tiền giấy này, đặc biệt là đối với khu vực bắc Mỹ đang thiếu hụt tiền kim loại. Ông cho rằng, “việc mua bán trên cơ sở tín dụng khiến cho các thương gia có thể định kỳ kết toán số dư tín dụng giữa các bên theo mỗi tháng hoặc mỗi năm, và điều này đã giảm thiểu sự bất tiện (trong giao dịch). Một hệ thống tiền giấy được quản lý tốt không những tạo ra sự thuận tiện trong sử dụng mà còn có thể có rất nhiều ưu thế trong một số tình huống nào đó.” [6]
Nhưng một loại tiền tệ không có thế chấp là kẻ thù tự nhiên của các ngân hàng, bởi vì nếu không có các khoản vay của Chính phủ làm thế chấp thì Chính phủ cũng không cần phải vay các khoản tiền kim loại vốn rất thiếu hụt thời bấy giờ, và như vậy, quả cân lớn nhất trên tay của các ngân hàng trong chốc lát cũng mất đi uy lực.
Trong cuộc vi hành của Benjamin Franklin đến nước Anh vào năm 1763, khi được vị chủ quản của Ngân hàng Anh hỏi về nguyên nhân phát triển thịnh vượng của thuộc địa ở châu lục mới, Franklin đã trả lời rằng: “Điều này rất đơn giản. Ở đất thuộc địa, chúng tôi phát hành tiền tệ của riêng mình, gọi là ‘chứng chỉ thuộc địa’. Chúng tôi căn cứ vào nhu cầu của thương nghiệp và công nghiệp để phát hành một lượng tiền tệ cân đối, như vậy, sản phẩm rất dễ dàng chuyển từ tay người sản xuất đến tay người tiêu dùng. Dùng phương thức này, chúng tôi tạo ra loại tiền giấy của riêng mình, đồng thời bảo đảm sức mua của nó, và (Chính phủ) của chúng tôi không cần phải trả lợi tức cho bất kỳ ai.”[7]
Loại tiền mới này tất nhiên sẽ dẫn đến việc thuộc địa châu Mỹ thoát ly khỏi sự khống chế của ngân hàng Anh quốc.
Các ngân hàng Anh tỏ ra phẫn nộ và bắt tay nhau hành động. Nghị viện Anh dưới sự khống chế của các nhà ngân hàng đã thông qua “Đạo luật tiền tệ” (Currency Act) vào năm 1764, theo đó, Nghị viện nghiêm cấm các bang trong thuộc địa châu Mỹ in ấn và phát hành tiền giấy của riêng mình, đồng thời yêu cầu Chính phủ các nơi này phải sử dụng toàn bộ vàng và bạc để đóng những khoản thuế cho chính phủ Anh quốc.
Franklin đã miêu tả một cách đau đớn về hậu quả kinh tế nghiêm trọng do đạo luật này mang lại cho các bang ở xứ thuộc địa như sau, “chỉ trong một năm, tình hình (thuộc địa) đã hoàn toàn đảo ngược, thời kỳ phồn thịnh đã kết thúc, kinh tế suy thoái nghiêm trọng đến mức từ đường phố cho đến bến cảng đều tràn ngập những đám người thất nghiệp.”
“Nếu như ngân hàng Anh không tước đoạt quyền phát hành tiền tệ của xứ thuộc địa, thì người dân của xứ thuộc địa sẽ vui vẻ đóng các khoản thuế trà và các sản phẩm khác. Dự luật này đã gây nên tình trạng thất nghiệp và sự bất mãn. Xứ thuộc địa không thể phát hành được tiền tệ của mình, từ đó sẽ không thể thoát khỏi sự khống chế của quốc vương George đệ tam và ngân hàng quốc tế một cách vĩnh viễn, là nguyên nhân chủ yếu gây ra cuộc chiến tranh độc lập ở Mỹ.”[9]
Những người đặt nền móng xây dựng nên Hợp chủng quốc Hoa Kỳ có sự nhận thức tương đối sáng suốt về sự khống chế của Ngân hàng Anh đối với nền chính trị của nước Anh và sự bất công đối với người dân. Người hoàn thành bản “tuyên ngôn độc lập” Mỹ nổi tiếng khi chỉ mới 33 tuổi chính là Thomas Jefferson - Tổng thống thứ ba của nước Mỹ, người có một câu danh ngôn cảnh báo người đời rằng:
Nếu cuối cùng người dân Mỹ để cho ngân hàng tư nhân khống chế được sự phát hành tiền tệ của quốc gia thì những ngân hàng này trước hết sẽ thông qua việc tăng lạm phát triền tệ, sau đó thông qua việc thắt chặt tiền tệ để tước đoạt tài sản của người dân, cho đến một ngày, khi con cái của họ thức tỉnh, thì họ đã mất đi nhà cửa vườn tược của mình và miền đất mà cha ông họ đã từng khẩn hoang khai phá. [10]
Sau hơn 200 năm khi lắng nghe lại câu nói này của Jefferson được phát ngôn vào năm 1791, chúng ta vẫn không khỏi kinh ngạc trước sự chính xác đến kinh người trong những lời nói của ông. Ngày nay, các ngân hàng tư nhân quả nhiên đã phát hành hơn 97% lượng lưu thông tiền tệ quốc gia của Mỹ, người dân Mỹ quả nhiên cũng mắc nợ ngân hàng với khoản tiền lên đến con số thiên văn - 44.000 tỉ đô-la Mỹ - và có lẽ một ngày nào đó khi họ thức tỉnh thì cũng sẽ thấy rằng mình đã mất đi nhà cửa vườn tược và tài sản, giống như đã từng xảy ra vào năm 1929.
Khi xem xét kỹ lịch sử và tương lai, những người dẫn đường vĩ đại của Hoa Kỳ đã viết ra một cách rõ ràng trong mục 8 chương 1 Hiến pháp của nước Mỹ rằng: “Quốc hội có quyền in và quy định giá trị của đồng tiền quốc gia.”[11]
[1] Abraham Lincoln, Thư gửi William Elkins, 21/11/1864.
[2] G. Edward Griffin, Sinh vật từ đảo Jekyll (The Creature from Jekyll Island ) - American Media, Westlake Village, CA 2002, tr. 393.
[3] Izola Forrester, Đạo luật ngu xuẩn This (One Mad Act) - Boston: Hale, Cushman & Flint , 1937, tr. 359.
[4] Glyn Davis, Lịch sử tiền tệ từ thời cổ đại đến nay (History of Money From Ancient Times to The Present Day) - University of Wales Press 2002, tr. 458.
[5] Sách đã dẫn, tr. 459.
[6] Adam Smith, Của cải của các quốc gia (Wealth of Nations), 1776, cuốn IV, Chương Một.
[7] Charles G. Binderup, Benjamin Franklin đã biến nước Anh thành một quốc gia phồn thịnh như thế nào? How Benjamin Franklin Made New England Prosperous, 1941.
[8] Sách đã dẫn.
[9] Sách đã dẫn.
[10] Năm 1787, quốc hội Hoa Kỳ họp để thông qua việc thay thế Điều khoản Liên bang bằng Hiến pháp.
[11] Hiến pháp Mỹ, điều 1, khoản 8.
|
|
|
(Đang đi) "Ôi giá lên ôi giá lên" (Vấp phải hòn đá) "Ôi ngón chân, ôi ngón chân"
|
Số vàng tặng cho bài viết này (cho điểm) : 0 Lượng
|
|
oi_ngon_chan
Thành viên mới
Online:
Bài viết: 18
Gia nhập: 22/10/2008
Giới tính: Nam  Ngân quỹ: 44 Lượng
Nhà đầu tư mới
|
Gửi: 07/12/2008 lúc 15:17 Th.báo nội dung xấu | Bình chọn bài viết |
CHIẾN DỊCH THỨ NHẤT CỦA NGÂN HÀNG QUỐC TẾ :
NGÂN HÀNG ĐẦU TIÊN CỦA HỢP CHỦNG QUỐC HOA KÌ (1791 - 1811)
“Cuộc chiến tranh tiền tệ” đề cập đến một cuộc chiến khốc liệt, không khoan nhượng và dai dẳng giữa một nhóm nhỏ các ông trùm tài chính – đứng đầu là gia tộc Rothschild - với các thể chế tài chính kinh tế của nhiều quốc gia. Đó là một cuộc chiến mà đồng tiền là su*** đạn và mức sát thương thật là ghê gớm. Nhóm tài phiệt ngân hàng này đã tạo ra một cơ chế kiểm soát nguồn cung ứng tiền tệ xuyên quốc gia, thực hiện các chính sách bơm tiền vào các nền kinh tế đang tăng trưởng để rồi chích nổ quả bong bóng kinh tế để thu lợi. Nguồn tài sản họ thu được có thể là dầu khí, bất động sản, nền công nghiệp quốc phòng, đất nông nghiệp...Tất cả có thể được quy đổi thành vàng hay tiền mặt tùy theo vận trù của họ. Kết quả là sau mỗi lần “xén lông cừu”, các nhà tài phiệt này lại giàu có hơn, uy lực càng ngày càng được củng cố hơn trên thì trường tài chính quốc tế."
Th.S Đinh Thế Hiển Giám đốc Viện nghiên cứu tin học & Kinh tế ứng dụng
CHIẾN DỊCH THỨ NHẤT CỦA NGÂN HÀNG QUỐC TẾ :
NGÂN HÀNG ĐẦU TIÊN CỦA HỢP CHỦNG QUỐC HOA KÌ (1791 - 1811)
Tôi tin chắc rằng, sự đe dọa của tổ chức ngân hàng đối với tự do của chúng ta còn nghiêm trọng hơn uy lực quân sự của kẻ thù. Họ đã tạo ra một tầng lớp quý tộc rủng rỉnh tiền bạc và coi thường chính phủ. Quyền phát hành tiền tệ phải được đoạt lại từ tay ngân hàng, nó phải thuộc về những người chủ thực sự của nó – nhân dân. [12]
Thomas Jefferson1802
Alexander Hamilton là một nhân vật có tầm ảnh hưởng quan trọng trong mối quan hệ mật thiết với dòng họ Rothschild. Sinh ra ở quần đảo Tây Ấn Độ thuộc Anh, Hamilton đến Mỹ với tên tuổi, danh tính và nơi xuất thân được dấu kín, sau đó kết hôn cùng cô con gái của một gia đình giàu có ở New York. Và theo những biên lai chuyển khoản còn lưu trữ ở bảo tàng Anh quốc, chúng ta có thể thấy rằng, Hamilton đã từng tiếp nhận sự trợ giúp của dòng họ Rothschild. [13]
Năm 1789, Hamilton đã được Tổng thống Washington bổ nhiệm làm Bộ trưởng thứ nhất Bộ tài chính, và chịu trách nhiệm về hệ thống ngân hàng trung ương của Mỹ. Năm 1790, đối mặt với những khó khăn kinh tế và khủng hoảng nợ nần sau cuộc chiến tranh độc lập, ông ta kiên quyết đề nghị quốc hội thành lập một ngân hàng trung ương tư nhân kiểu như ngân hàng Anh để phụ trách hoàn toàn việc phát hành tiền tệ. Lập luận của ông ta là: với trụ sở đặt tại Philadelphia, Ngân hàng trung ương tư nhân sẽ cho xây dựng chi nhánh của mình tại các nơi, tiền và nguồn thuế của Chính phủ cần phải đặt trong hệ thống của ngân hàng này, ngân hàng này phục trách việc phát hành tiền tệ quốc gia để thỏa mãn nhu cầu phát triển kinh tế, cho vay và thu lợi nhuận từ Chính phủ Mỹ. Giá trị cổ phần của ngân hàng này là 10 triệu đô-la Mỹ, trong đó tư nhân nắm giữ 80% cổ phần, 20% còn lại thuộc về Chính phủ Mỹ. Cổ đông bầu ra 20 người trong số 25 người của hội đồng quản trị, 5 người còn lại do Chính phủ bổ nhiệm.
Hamilton đại diện cho lợi ích của giai cấp thống trị tinh anh Hoa Kỳ. Ông ta từng chỉ ra rằng, “mọi xã hội đều phân chia thành đa số và thiểu số. Thiểu số xuất thân từ các gia đình danh gia vọng tộc, còn đa số chính là dân đen. Trước những rối loạn và biến động, nhóm đa số thường rất ít khả năng đưa ra được sự phán đoán và quyết định chính xác.”
Mà Jefferson thì đại diện cho lợi ích của nhân dân, đối với quan điểm của Hamilton, câu trả lời của ông là, “chúng tôi cho rằng chân lý sau đây là không cần phải chứng minh: Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể tước đoạt được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”
Liên quan đến vấn đề ***** ngân hàng trung ương tư nhân, cả hai bên đều chĩa mũi nhọn công kích vào nhau.
Hamilton cho rằng, “nếu như không đem lợi ích và của cải của những cá nhân có tiền trong xã hội tập hợp lại với nhau thì xã hội này không thể thành công”.[14] “Công trái quốc gia, nếu không phải là quá nhiều, thì cũng phải là hạnh phúc của quốc gia chúng ta.”[15]
Jefferson phản pháo rằng, “Sự đe dọa của một tổ chức ngân hàng đối với tự do của chúng ta còn nghiêm trọng hơn uy lực quân sự của kẻ thù”.[16] “Chúng ta vĩnh viễn không thể chấp nhận việc cho phép giai cấp cầm quyền tăng thêm nợ trên đầu trên cổ của nhân dân.”[17]
Tháng 12 năm 1791, khi phương án của Hamilton được giao cho quốc hội thảo luận, ngay lập tức đã dẫn đến sự tranh luận gay gắt chưa từng có. Cuối cùng, thượng nghị viện đã thông qua phương án này với đa số phiếu ủng hộ, và cũng vượt qua ải hạ nghị viện với số phiếu 39/20. Lúc này, tổng thống Washington đang trong tình trạng phải xử lý khủng hoảng nợ nghiêm trọng và đã bị đẩy vào thế phân vân cực độ. Ông đã hỏi ý kiến Jefferson và Madison - Bộ trưởng ngoại giao của Hoa Kỳ thời đó. Những người này đã chỉ rõ ràng rằng, đề án này xung đột với hiến pháp. Hiến pháp trao quyền cho quốc hội phát hành tiền tệ, nhưng quốc hội không được quyền phát hành tiền tệ cho bất cứ ngân hàng tư nhân nào. Hiển nhiên, những phân tích này đã tác động sâu sắc đến tổng thống, thậm chí ông ta đã quyết tâm phủ nhận pháp lệnh này đến cùng.
Sau khi biết được tin tức này, Hamilton tập tức thuyết phục Washington, những sổ sách số liệu của Hamilton ở cương vị Bộ trưởng tài chính tỏ ra càng có sức thuyết phục nhiều hơn: nếu không thành lập ngân hàng trung ương để nhận sự đầu tư của nước ngoài đổ vào thì Chính phủ sẽ sụp đổ rất nhanh. Cuối cùng, những nguy cơ trước mắt đã áp đảo những suy nghĩ lâu dài cho tương lai. Ngày 25 tháng 2 năm 1792, Tổng thống Washington đã đặt bút ký trao quyền thành lập ngân hàng trung ương thứ nhất của Mỹ với thời gian hiệu lực trong 20 năm.[18]
Các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế cuối cùng đã giành được thắng lợi quan trọng. Đến năm 1811, tư bản ngoại quốc đã chiếm được 7 triệu trong tổng số 10 triệu cổ phần gốc, Ngân hàng Anh và Nathan Rothschild trở thành cổ đông chủ yếu của ngân hàng trung ương Mỹ – Ngân hàng thứ nhất của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (The First Bank of the United States)[19]
Hamilton cuối cùng trở nên vô cùng giàu có. Ngân thàng thứ nhất sau này cùng với công ty Manhattan New York do Alan Bow thành lập đã trở thành Ngân hàng thứ nhất của phố Wall. Năm 1955, nó đã được sáp nhập với Ngân hàng Chase của Rockefeller và trở thành Ngân hàng Chase Manhattan Bank.
Chính phủ tỏ rõ khát vọng cực độ đối với tiền tài, phù hợp với mong đợi của ngân hàng trung ương tư nhân – ngân hàng đang nóng lòng trông chờ chính phủ vay nợ. Chỉ trong vòng năm năm ngắn ngủi kể từ khi ngân hàng trung ương thành lập (1791 – 1796), số nợ vay của chính phủ Mỹ đã tăng thêm 8,2 triệu USD.
Năm 1798, Jefferson đã nói một cách đầy hối tiếc rằng: “Tôi thật sự hy vọng chúng ta có thể sửa chữa, chỉnh sửa thêm cho bản hiến pháp, loại bỏ quyền vay nợ của Chính phủ”.[20]
Sau khi trúng cử tổng thống khóa thứ ba (1801 – 1809), Tổng thống Jefferson đã nỗ lực không ngừng hòng phế bỏ Ngân hàng thứ nhất của Mỹ, và đến khi hoạt động của ngân hàng sắp mãn hạn vào năm 1811 thì sự đấu sức giữa đôi bên đã đến mức cực điểm. Hạ nghị viện đã phủ quyết đề án kéo dài thời hạn kinh doanh của ngân hàng với 65 phiếu thuận và 64 phiếu chống, còn thượng nghị viện thì ở thế giằng co 17/17. Lần này, phó tổng thống đã phá vỡ thế bế tắc bằng một phiếu phủ quyết quan trọng và một quyết định được thông qua ngày 3 tháng 3 năm 1811, theo đó, Ngân hàng thứ nhất của Mỹ phải đóng cửa.[21]
Lúc này, Nathan Rothschild đang trấn giữ ở London, khi hay tin đã nổi trận lôi đình. Ông ta nói một cách đe dọa rằng: “Hoặc là ngân hàng (Ngân hàng thứ nhất Mỹ) được quyền kéo dài thời hạn kinh doanh, hoặc là nước Mỹ sẽ phải đối mặt với một cuộc chiến tranh tai họa nhất.” Nhưng đáp lại lời thách thức ấy của Nathan, Chính phủ Mỹ vẫn không hề đưa ra bất cứ hành động nào, Nathan lập tức đáp trả: “Hãy dạy cho những người Mỹ vô lý này một bài học, hãy đưa chúng trở về thời kỳ thuộc địa.”
Kết quả là mấy tháng sau, cuộc chiến tranh năm 1812 giữa Anh và Mỹ đã nổ ra. Cuộc chiến đã kéo dài suốt ba năm, mục đích của Rothschild là hết sức rõ ràng. Họ phải đánh cho đến khi những khoản nợ của Chính phủ Mỹ chất cao như núi, và chính phủ Mỹ rốt cuộc không thể không đầu hàng, phải nhượng bộ để cho họ được tiếp tục chi phối ngân hàng trung ương mới thôi. Kết quả là khoản nợ của Chính phủ Mỹ đã tăng vọt từ 45 triệu đô-la lên đến 127 triệu đô-la, để rồi cuối cùng, vào năm 1815, Chính phủ Mỹ cũng đã phải chịu khuất phục. Ngày 5 tháng 12 năm 1815, tổng thống Madison đã đề xuất thành lập ngân hàng trung ương thứ hai, kết quả là Ngân hàng thứ hai của nước Mỹ (The Bank of the United States) đã được khai sinh vào năm 1816 (1816 – 1832).
|
|
|
(Đang đi) "Ôi giá lên ôi giá lên" (Vấp phải hòn đá) "Ôi ngón chân, ôi ngón chân"
|
Số vàng tặng cho bài viết này (cho điểm) : 0 Lượng
|
|
oi_ngon_chan
Thành viên mới
Online:
Bài viết: 18
Gia nhập: 22/10/2008
Giới tính: Nam  Ngân quỹ: 44 Lượng
Nhà đầu tư mới
|
Gửi: 07/12/2008 lúc 15:18 Th.báo nội dung xấu | Bình chọn bài viết |
SỰ TRỞ LẠI CỦA NGÂN HÀNG QUỐC TẾ (1816 – 1832)
Sự chi phối của các cơ cấu ngân hàng đối với ý thức nhân dân tất yếu sẽ bị phá vỡ, nếu không thì sự chi phối này sẽ phá vỡ đất nước chúng ta.[22 Thư của Jefferson gửi cho Munroe (Tổng thống thứ 5 của hoa Kỳ) năm 1815
Ngân hàng thứ hai của Mỹ được cấp phép kinh doanh từ những năm 20 với tổng số vốn cổ phần lên đến 35 triệu đô-la Mỹ, trong đó 80% vốn do tư nhân chiếm giữ, 20% vốn còn lại thuộc về Chính phủ[23]. Và cũng giống như ngân hàng thứ nhất, Rothschild cũng nắm chắc quyền lực của ngân hàng thứ hai.
Năm 1828, Andrew Jackson tham gia tranh cử tổng thống. Trong một lần phát biểu trước các ngân hàng, ông đã không ngần ngại mà nói rằng: “Các ngài là một lũ rắn độc. Tôi muốn quét sạch các ngài, nhân danh Chúa, nhất định tôi sẽ quét sạch các ngài. Nếu như người dân biết được tiền tệ và hệ thống ngân hàng của chúng tôi không minh bạch như thế nào, thì ngay trước sáng ngày mai sẽ nổ ra cuộc cách mạng.”
Khi được bầu làm tổng thống năm 1828, Andrew Jackson quyết tâm phế bỏ Ngân hàng thứ hai. Ông chỉ ra rằng: “nếu hiến pháp trao quyền cho Quốc hội phát hành tiền tệ, vậy thì hãy để cho Quốc hội thực thi quyền của mình, chứ không phải là để quốc hội trao quyền đó cho bất cứ cá nhân hay công ty nào.” Trong tổng số 11.000 nhân viên đang làm việc cho Chính phủ liên bang, ông đã cho sa thải hơn 2000 nhân viên có liên quan đến ngân hàng.
Năm 1832, Jackson tham gia tranh cử nhiệm kỳ thứ hai. Nếu ông thắng cử, thì thời gian hoạt động của ngân hàng thứ hai sẽ kết thúc trong nhiệm kỳ tiếp theo của ông vào năm 1836. Mọi người đều biết cảm tưởng của tổng thống đối với ngân hàng thứ hai, và để tránh tình trạng “đêm dài lắm mộng”, ngân hàng đã nghĩ cách để có được giấy phép kinh doanh đặc biệt kéo dài thêm 20 năm nữa trước khi diễn ra cuộc tổng tuyển cử. Đồng thời với việc này, các ngân hàng cũng đã không tiếc chi ra khoản tiền 3 triệu đô-la để ủng hộ cho quỹ tranh cử của Henry Clay - đối thủ của Tổng thống Jackson, trong khi khẩu hiệu tranh cử của Jackson là “Có Jackson thì không có ngân hàng”. Cuối cùng, Jackson đã giành thắng lợi với số phiếu áp đảo.
Đề án kéo dài thời hạn giấy phép kinh doanh ngân hàng đã được thông qua tại thượng nghị viện với số phiếu 28/20, và vượt qua cửa hạ nghị viện với số phiếu 167/85[24]. Ỷ vào sự hậu thuẫn của đế quốc tài chính Rothschild hùng mạnh ở châu Âu, Biddle - chủ tịch ngân hàng thứ hai - chẳng coi Tổng thống ra gì. Trong khi thiên hạ bàn tán xôn xao rằng đề án kéo dài thời hạn kinh doanh của ngân hàng sẽ bị Jackson phủ quyết, Biddle đã lên giọng tuyên bố “Nếu ông ta phủ quyết đề án, thì tôi sẽ phủ quyết ông ta.”
Rốt cục, Jackson đã phủ quyết không chút do dự đối với đề án kéo dài thời hạn kinh doanh của ngân hàng thứ hai. Ông còn lệnh cho Bộ trưởng tài chính lập tức yêu cầu các cơ quan dự trữ của Chính phủ rút ngay các khoản tiền tiết kiệm từ tài khoản của ngân hàng thứ hai, chuyền vào các tài khoản của ngân hàng ở các bang. Ngày 8 tháng 1 năm 1835, Tổng thống Jackson đã trả xong khoản nợ cuối cùng của đất nước, đây là lần duy nhất trong lịch sử nước Mỹ, Chính phủ đã giảm khoản nợ quốc gia xuống mức 0, đồng thời còn tạo ra một khoản thặng dư trị giá 35 triệu đô-la Mỹ. Các nhà sử học đánh giá thành tựu vĩ đại này rằng “đây là vinh dự sán lạn nhất của tổng tống, cũng là sự cống hiến quan trọng nhất mà ông đã làm cho đất nước này.” Tờ Boston Post đã xem việc này giống như sự kiện Chúa đuổi người cho vay tiền ra khỏi thánh đường vậy.
“NGÂN HÀNG MUỐN GIẾT CHẾT TÔI, NHƯNG TÔI SẼ GIẾT CHẾT NGÂN HÀNG”
Ngày 30 tháng 1 năm 1835, Tổng thống Andrew Jackson đến Capital Hill tham dự tang lễ của một nghị sĩ quốc hội. Richard Laurence - một tay thợ sơn thất nghiệp đến từ Anh - đã lẻn theo Tổng thống Andrew Jackson, trong túi áo khoác của anh ta dấu sẵn hai khẩu súng đã nạp đầy đạn. Khi Tổng thống tiến vào phòng nghi thức tang lễ, Lawrence vẫn còn cách Tổng thống một khoảng khá xa. Hắn nhẫn nại chờ thời cơ tốt hơn để hành động. Sau khi nghi thức kết thúc, hắn nấp vào giữa hai hàng cột, nơi mà hắn biết chắc chắn tổng thống phải đi qua. Vừa đúng lúc Tổng thống bước đến, hắn từ phía sau cột xông ra, bóp cò súng bắn thẳng vào Tổng thống trong khoảng cách chưa đầy hai mét. Nhưng rất may đạn bị lép, nên Laurence đã không thể hạ sát được Tổng thống. Khi đó, mọi người xung quanh đều hết sức hoảng hốt. Nhưng vị tổng thống 67 tuổi này vẫn tỏ ra bình tĩnh đối mặt với tên sát thủ, và theo bản năng, ông đưa cây gậy của mình lên để tự vệ. Liền đó, tên sát thủ lại tiếp tục móc khẩu súng thứ hai ra và bóp cò, nhưng đạn vẫn bị lép. Đây là tổng thống đầu tiên của Mỹ bị ám sát, và thật may mắn là ông đã thoát chết. Thông thường, tỉ lệ cả hai khẩu súng đều lép đạn chỉ là 1/125000 mà thôi.
Tên sát nhân 32 tuổi này tự xưng là người thừa kế hợp pháp của quốc vương Anh, và hắn cho rằng, tổng thống Mỹ đã giết chết cha hắn, lại còn cự tuyệt để hắn có được một khoản tiền lớn. Sau đó, tại tòa án, chỉ sau năm phút thẩm tra, tòa đã phán quyết là tên sát nhân này mắc bệnh tâm thần, nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hắn.
Từ đó về sau, bệnh tâm thần trở thành cái cớ thích hợp nhất để chạy tội của các sát thủ.
Ngày 8 tháng 1 năm 1835, Tổng thống Jackson đã trả xong khoản nợ cuối cùng của đất nước. Cuối tháng Giêng, tức là ngày 30 tháng 1, vụ ám sát xảy ra. Liên quan đến tên hung thủ Richard Laurence, Griffin đã viết trong sách của ông rằng: “Tên sát thủ này hoặc là bị bệnh tâm thần thật, hoặc là giả bệnh để hòng thoát khỏi sự trừng trị nghiêm minh của pháp luật. Sau này, hắn đã khua môi múa mép nói với người khác rằng hắn có mối quan hệ mật thiết với những người có quyền thế ở châu Âu, và hắn đã được hứa là nếu có bị bắt thì sẽ được bảo vệ.” [21]
Ngày 8 tháng 6 năm 1845, Tổng thống Jackson qua đời. Trên bia mộ của ông chỉ có một câu nói duy nhất, “Ta đã giết được ngân hàng.”
Ngân hàng Trung ương Mỹ lại một lần nữa bị vô hiệu hóa, dẫn đến sự trả đũa nghiêm khắc của phía Anh, nước Anh lập tức đình chỉ các khoản cho vay đối với nước Mỹ, trong đó có chiêu tận thu lượng cung ứng tiền vàng của nước Mỹ. Nền tài chính của nước Anh khi đó dưới sự vận hành và thao tác của Rothschild, đã có được lượng lưu thông tiền vàng với quy mô lớn nhất. Thông qua các khoản tiền cho vay và sự vận hành của ngân hàng trung ương Mỹ, nó đã khống chế hoàn toàn việc cung ứng tiền tệ của Mỹ.
Sau khi đơn xin kéo dài thời hạn của ngân hàng thứ hai nước Mỹ bị Tổng thống phủ quyết, chủ tịch ngân hàng thứ hai đã khởi động việc “phủ quyết” đối với Tổng thống. Ngân hàng thứ hai tuyên bố lập tức thu hồi các khoản đã cho vay, đình chỉ tất cả các khoản vay mới. Các ngân hàng chủ yếu ở châu Âu do dòng họ Rothschild thao túng cũng đồng thời khống chế vòng quay lưu chuyển tiền tệ của nước Mỹ, đẩy nước Mỹ rơi vào tình thế sụt giảm lượng lưu thông tiền tệ “do con người gây ra” một cách nghiêm trọng, cuối cùng dẫn đến “cuộc khủng hoảng năm 1837”, kinh tế Mỹ rơi vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng trong suốt hơn 5 năm, sức phá hoại của nó lớn chưa từng thấy, gây nên thời kỳ điêu tàn của nền kinh tế Mỹ kéo dài mãi đến năm 1929.
“Cuộc khủng hoảng năm 1857” tiếp sau “cuộc khủng khoảng năm 1837”, rồi cuộc khủng hoảng năm 1907 một lần nữa đã xác nhận câu nói của Rothschild: “Chỉ cần có thể khống chế việc phát hành tiền tệ của một quốc gia thì ta không cần phải quan tâm rằng ai đã đặt ra pháp luật.”
CHIẾN TUYẾN MỚI: “HỆ THỐNG TÀI CHÍNH ĐỘC LẬP”
Năm 1837, Martin P. Bran - người kế nhiệm được Tổng thống Jackson ủng hộ - tiếp quản Nhà trắng. Thách thức lớn nhất của ông là làm thế nào để khắc phục nguy cơ khủng hoảng nghiêm trọng do ngân hàng quốc tế thắt chặt nguồn cung ứng tiền. Sách lược tiên phong của ông là xây dựng “hệ thống tài chính độc lập” (Independent Treasury System), rút toàn bộ tiền tệ do Bộ tài chính kiểm soát khỏi hệ thống ngân hàng tư nhân, rồi gửi vào trong hệ thống của mình ở Bộ tài chính. Các nhà sử học gọi hành động này là “cuộc ly hôn giữa tài chính và ngân hàng”.
Khởi nguồn của “hệ thống tài chính độc lập” là khi Tổng thống Jackson phủ quyết việc kéo dài thời hạn kinh doanh của ngân hàng thứ hai của Mỹ, đồng thời ra lệnh rút toàn bộ các khoản tiền của Chính phủ khỏi hệ thống ngân hàng này, chuyển đến gửi ở ngân hàng của các bang. Ai ngờ, tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa. Các nhà ngân hàng dùng tiền của Chính phủ làm dự trữ, sau đó phát hành tín dụng với số lượng lớn để đầu cơ. Đây là một nguyên nhân khác dẫn đến “cuộc khủng hoảng năm 1837”. Nguồn tiền của chính phủ do Martin P. Bran đề xuất phải làm sao được gia***** khỏi hệ thống tài chính nhằm bảo vệ tiền vốn của Chính phủ đồng thời cân nhắc khả năng ngân hàng dùng tiền thuế của người dân để phát hành tín dụng với số lượng lớn tạo nên sự mất cân bằng trong nền kinh tế. Một đặc điểm khác của “hệ thống tài chính độc lập” là tất cả các khoản tiền nhập vào hệ thống tài chính cần phải được thể hiện dưới dạng vàng bạc, như vậy Chính phủ đã có được một điểm tựa để điều tiết khống chế đối với lượng cung ứng tiền vàng của quốc gia nhằm khống chế cuộc xung đột giữa ngân hàng châu Âu đối với việc phát hành tiền tệ của nước Mỹ. Cách suy nghĩ này có thể nói là một diệu kế nếu nhìn từ góc độ lâu dài, nhưng nếu xét về ngắn hạn thì lại có thể châm ngòi nổ cho quả bom rủi ro tín dụng của rất nhiều các ngân hàng, chẳng khác nào đổ thêm dầu vào lửa trong cuộc xung đột với Ngân hàng thứ hai của Mỹ, khủng hoảng sẽ xảy ra đến mức không thể khống chế được.
Trong quá trình này, Henry Clay là một nhân vật hết sức quan trọng. Ông là người kế thừa quan trọng tư tưởng Ngân hàng trung ương tư hữu của Hamilton, và là nhân vật được mến mộ của các nhà tài phiệt ngân hàng. Ông là người có tài ăn nói, lối suy nghĩ chặt chẽ, và có sức lôi cuốn. Ông đã tụ hội được bên mình một nhóm các nghị sĩ ủng hộ ngân hàng và được các ngân hàng ủng hộ. Ông đã thành lập đảng Whig (tiền thân của đảng tự do Anh) – một đảng kiên quyết phản đối chính sách ngân hàng của Tổng thống Jackson đã dồn sức vào việc khôi phục lại chế độ ngân hàng trung ương tư hữu.
Trong cuộc bầu tổng thống năm 1840, đảng Whig đã đề cử vị anh hùng chiến tranh William Henry Harrison, và do trong suy nghĩ của người dân có sự thay đổi về nguy cơ kinh tế, nên Harrison đã dành thắng lợi và trở thành Tổng thống thứ 9 của nước Mỹ một cách thuận lợi.
Với vai trò thủ lĩnh của đảng Whig, Henry Clay đã nhiều lần “chỉ đạo” Harrison phải điều hành nền chính trị như thế nào. Sau khi Harrison trở thành Tổng thống, mâu thuẫn giữa hai người ngày càng trở nên gay gắt. Henry Clay đã triệu kiến “tổng thống sắp nhậm chức” đến nhà mình ở Lexington. Vì nghĩ đến đại cuộc nên Harrison đã nhẫn nhịn đến nhà Henry Clay, nhưng vì vấn đề ngân hàng quốc gia, chế độ tài chính độc lập và nhiều vấn đề khác nữa mà hai người đã gây gổ với nhau. Nguyên nhân là vì Henry Clay cho rằng có thể lấy thân phận “thái thượng hoàng” của mình để ra lệnh, dù chưa được sự đồng ý của Harrison nhưng ông ta đã cho người chấp bút viết bài diễn văn nhậm chức thay tổng thống và đã bị Harrison từ chối, Harrison còn đích thân viết một vài diễn văn nhậm chức dài hơn 8000 từ. Văn kiện tóm lược lại đường lối tư tưởng trị nước của Harrison đã phản bác lại luận điệu ngân hàng trung ương tư nhân và phế bỏ đường lối chính sách tài chính độc lập do Henry Clay chủ trương, từ đó tạo nên một đòn đau thấu xương đối với lợi ích của ngân hàng.[26]
Ngày 4 tháng 3 năm 1841 là một ngày rét mướt, Tổng thống Harrison đã phát biểu bài diễn văn nhậm chức của mình trong gió rét, và rốt cuộc đã bị cảm lạnh. Đối với Tổng thống Harrison, người một đời xông pha nơi trận mạc thì chuyện này cũng chẳng có gì lớn lao, nào ngờ bệnh tình của ông lại ngày càng trở nên trầm trọng khác thường, và đến ngày 4 tháng 4 thì từ trần. Tổng thống Harrison vừa mới lên nhậm chức và đang chuẩn bị triển khai rất nhiều dự định lớn lao thì bỗng nhiên “đột tử”. Việc một vị tổng thống vẫn còn minh mẫn hoạt bát tháng trước lại đột ngột từ trần tháng sau, dù thế nào thì đó cũng là một việc hết sức đáng ngờ. Có một số nhà sử học cho rằng tổng thống băng hà là do bị đầu độc, có thể thời gian hạ độc là vào ngày 30 tháng 3, và sau 6 ngày thì tổng thống Harrison từ trần.
Cuộc đấu tranh xung quanh chuyện ngân hàng trung ương tư hữu và hệ thống tài chính độc lập càng trở nên căng thẳng hơn vì cái chết của tổng thống Harrison. Trong năm 1841, Đảng Whig do Henry Clay chủ trì đã hai lần đề xuất phải khôi phục lại ngân hàng trung ương tư hữu và phế bỏ chế độ tài chính độc lập, kết quả cả hai lần đều bị người kế nhiệm của tổng thống Harrison là phó tổng thống John Tyler phủ quyết. Henry Clay tức giận và xấu hổ đã ra lệnh khai trừ John Tyler ra khỏi đảng Whig, kết quả là tổng thống John Tyler “may mắn” trở thành vị tổng thống “mồ côi” bị khai trừ ra khỏi đảng duy nhất trong lịch sử nước Mỹ.
Đến năm 1849, một nhân vật khác của đảng Whig là Zachary Taylor sau khi trúng cử tổng thống, đã khôi phục lại hy vọng của ngân hàng trung ương. Việc xây dựng một ngân hàng trung ương tư nhân theo mô hình của ngân hàng Anh là mơ ước cao nhất của các ngân hàng, và nó có nghĩa rằng, cuối cùng thì ngân hàng cũng quyết định được số phận của quốc gia và nhân dân. Nhìn vào vết xe đổ trước đó của tổng thống Harrison, Taylor luôn tỏ ra hững hờ đối với vấn đề ngân hàng trung ương hết sức quan trọng này, nhưng đồng thời ông cũng không cam tâm trở thành con rối trong tay Henry Clay. Nhà sử học Michael Holt đã cho rằng, Tổng thống Tayler đã từng ngầm bày tỏ như thế này “Chủ ý xây dựng ngân hàng trung ương đã được định đoạt, và đó không phải là vấn đề cần được tôi xem xét trong nhiệm kỳ của mình.”[27] Kết quả là, “cái đã được định đoạt” ở đây không phải là sự chú ý của ngân hàng trung ương mà nhắm vào bản thân tổng thống Taylor.
Ngày 4 tháng 7 năm 1850, Tổng thống Taylor tham dự lễ quốc khánh được cử hành trước đài tưởng niệm Washington. Thời tiết hôm đó hết sức oi nồng, Taylor đã uống một chút sữa đá, và ăn thêm mấy quả anh đào, kết quả là ông bị đau bụng. Đến ngày 9 tháng 7 thì vị tổng thống khôi ngô vạm vỡ này cũng ra đi một cách thần bí.
Sự kiện đột tử thần bí vì những căn bệnh chẳng đâu vào đâu của cả hai vị tổng thống có xuất thân từ quân nhân này đương nhiên đã gây xôn xao dư luận. Còn giới sử học thì tranh luận về đề tài này trong hàng thế kỷ. Năm 1991, sau khi được sự đồng ý của người nhà Tổng thống Taylor, thi thể của ông đã được khai quật lên, người ta lấy mẫu móng tay và tóc của Tổng thống đi xét nghiệm. Kết quả cho thấy, ông chết vì bị đầu độc. Đương nhiên cơ quan điều tra đã nhanh chóng lấp liếm rằng lượng đầu độc rất nhỏ không đủ để gây chết người, sau đó vội vàng kết thúc vụ điều tra. Cho đến ngày nay, chẳng ai biết được tại sao cơ thể tổng thống lại có những thứ độc tố này.
|
|
|
(Đang đi) "Ôi giá lên ôi giá lên" (Vấp phải hòn đá) "Ôi ngón chân, ôi ngón chân"
|
Số vàng tặng cho bài viết này (cho điểm) : 0 Lượng
|
|
oi_ngon_chan
Thành viên mới
Online:
Bài viết: 18
Gia nhập: 22/10/2008
Giới tính: Nam  Ngân quỹ: 44 Lượng
Nhà đầu tư mới
|
Gửi: 07/12/2008 lúc 15:40 Th.báo nội dung xấu | Bình chọn bài viết |
NGÂN HÀNG QUỐC TẾ RA TAY TẠO NÊN CUỘC “KHỦNG HOẢNG NĂM 1857”
Do Ngân hàng thứ hai của Mỹ đóng cửa năm 1836 nên các ông chủ ngân hàng quốc tế đã đột ngột ra tay rút sạch toàn bộ lượng tiền tệ kim loại đang lưu thông ở nước Mỹ, tạo nên khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng liên tục trong 5 năm ở quốc gia này. Mặc dù vào năm 1841, đại diện của các chủ ngân hàng quốc tế đã từng hai lần thử khôi phục lại hệ thống ngân hàng trung ương tư nhân, nhưng cả hai lần đều thất bại, mối quan hệ giữa hai bên rơi vào trạng thái đóng băng, tình trạng siết chặt tiền tệ của Mỹ kéo dài mãi đến năm 1848 mới bắt đầu được giải tỏa.
Nguyên nhân khiến cho tình hình chuyển biến tích cực tất nhiên không phải do các ông chủ ngân hàng quốc tế quá từ bi, mà là do vào năm 1848, nước Mỹ đã phát hiện mỏ vàng rất lớn: mỏ vàng San Francisco.
Lượng cung ứng vàng của Mỹ liên tục trong 9 năm kể từ năm 1848 đã tăng vọt chưa từng thấy, chỉ riêng California đã sản xuất ra một lượng tiền vàng trị giá đến 5 tỉ đô-la Mỹ. Năm 1851 ở Úc cũng phát hiện được một mỏ vàng có trữ lượng lớn, lượng cung ứng vàng trong phạm vi thế giới từ 144 triệu siling của năm 1851 tăng vọt lên 376 triệu siling trong năm 1861. Và lưu lượng tiền thuộc kim nội địa của Mỹ từ 83 triệu đô-la trong năm 1840 tăng vọt lên 253 triệu đô-la trong năm 1860. [28]
Việc phát hiện những mỏ vàng lớn ở Mỹ và Úc đã phá vỡ sự khống chế tuyệt đối của các nhà tài chính châu Âu đối với lượng cung ứng vàng thế giới. Chính phủ Mỹ thở phào nhẹ nhõm vì đã thoát được cảnh phải bị siết chặt tiền tệ. Việc cung ứng tiền tệ với chất lượng tốt và số lượng nhiều đã làm tăng niềm tin cho thị trường, các ngân hàng bắt đầu bành trướng hoạt động tín dụng trên quy mô lớn. Cơ sở quan trọng nhất trong tài sản của nước Mỹ là rất nhiều ngành công nghiệp quan trọng của Mỹ như công nghiệp, khoáng sản, giao thông, cơ giới đều được khôi phục nhanh chóng trong giai đoạn hoàng kim này.
Thấy việc khống chế tài chính tỏ ra không còn hiệu quả, các ông chủ ngân hàng quốc tế sớm đã có đối sách mới. Đó chính là chính sách không chế tài chính, phân hóa chính trị.
Trước khi cuộc khủng hoảng kết thúc, các ông chủ ngân hàng đã bắt đầu ra tay thu mua của cải quý giá của dân chúng với giá rẻ mạt. Đến năm 1853, khi nền kinh tế Mỹ phất như diều gặp gió thì tư bản nước ngoài, đặc biệt là tư bản Anh đã sở hữu 46% trong tổng số công trái liên bang, 58% tổng công trái các bang, 26% tổng công trái ngành đường sắt Mỹ[29]. Như vậy, một khi chế độ ngân hàng trung ương được yên vị thì nền kinh tế Mỹ cũng sẽ bị các ông chủ ngân hàng khống chế giống như các quốc gia châu Âu khác.
Các ông chủ ngân hàng quốc tế mở rộng hoạt động tín dụng, khiến nền kinh tế phát triển với tốc độ như bơm bong bóng để người dân và các doanh nghiệp khác ra sức tạo ra của cải, sau đó đạp gấp phanh tín dụng, khiến cho hầu hết các doanh nghiệp và người dân mất máu mà phá sản, còn các ngân hàng lại được một phen bội thu. Quả nhiên, trong khi thấy mùa thu hoạch đã đến, các ông chủ ngân hàng quốc tế và các đại diện của họ ở Mỹ đã quơ tay siết chặt tín dụng, gây nên cuộc khủng hoảng năm 1857. Nhưng điều vượt ra ngoài dự liệu của họ là, thực lực của nền kinh tế Mỹ lúc này đã không còn như 20 năm trước nữa, cuộc khủng hoảng năm 1857 không thể làm chấn thương trầm trọng nền kinh tế Mỹ một lần nữa, mà nó chỉ kéo dài trong một năm thì nước Mỹ đã dập tắt được khủng hoảng.
Khi thấy thực lực của nước Mỹ ngày càng mạnh, tài chính ngày càng khó bị khống chế, các ông chủ ngân hàng quốc tế đặt ra nhiệm vụ trọng tâm cho mình: kích động nội chiến và chia cắt nước Mỹ.
[12] Thư gửi Bộ trưởng tài chính Albert Gallatin (1802).
[13] Allan Hamilton, Cuộc đời của Alexander Hamilton (The Intimate Life of Alexander Hamilton) - Charles Scribner’s Sons 1910.
[14] Arthur Schlesinger con, Thời đại của Jackson (The Age of Jackson) - New York: Mentor Books, 1945, tr.6-7.
[15] Được viết cho Robert Morris vào 30/4/1781.
[16] Tuyển tập tác phẩm của Thomas Jefferson (New York& Sons, 1899), tập X, tr. 31.
[17] Tác phẩm của Thomas Jefferson (Willey Book Company, 1944), tr. 749.
[18] Glyn Davies, Lịch sử tiền tệ từ thời cổ đại đến nay (History of Money From Ancient Times to The Present Day) - University of Wales Press 2002, tr. 474.
[19] Sách đã dẫn, tr. 475.
[20] Thomas Jefferson, Thư gửi John Taylor, 26/11/1798; in lại trong Tuyển tập tác phẩm của Thomas Jefferson, tập10.
[21] Glyn Davies, Lịch sử tiền tệ từ thời cổ đại đến nay (History of Money From Ancient Times to The Present Day) - University of Wales Press 2002, tr. 475-476.
[22] Thomas Jefferson, Thư gửi James Monroe, 1/1/1815.
[23] Glyn Davies, History of Money From Ancient Times to The Present Day ( University of Wales Press, 2002), tr. 476.
[24] Sách đã dẫn, tr. 479.
[25] G. Edward Griffin, Sinh vật từ đảo Jekyll (The Creature from Jekyll Island ) - American Media, Westlake Village, CA 2002, tr. 224.
[26] Diễn văn khai mạc của Tổng thống William Henry Harrison, 4/3/1841.
[27] Michael F. Holt; Sự lên ngôi và sụp đổ của Đảng Whig (The Rise ans Fall of the American Whig Party: Jacksonian Politics and the Onset of the Civil War) - 1999; tr. 292.
[28] Glyn Davies, Lịch sử tiền tệ từ thời cổ đại đến nay (History of Money From Ancient Times to The Present Day) - University of Wales Press 2002, tr. 484
[29] Sách đã dẫn, tr. 486.
|
|
|
(Đang đi) "Ôi giá lên ôi giá lên" (Vấp phải hòn đá) "Ôi ngón chân, ôi ngón chân"
|
Số vàng tặng cho bài viết này (cho điểm) : 0 Lượng
|
|
oi_ngon_chan
Thành viên mới
Online:
Bài viết: 18
Gia nhập: 22/10/2008
Giới tính: Nam  Ngân quỹ: 44 Lượng
Nhà đầu tư mới
|
Gửi: 07/12/2008 lúc 15:41 Th.báo nội dung xấu | Bình chọn bài viết |
CHÍNH SÁCH MỚI VỀ TIỀN TỆ CỦA LINCOLN
Vì sao đô-la Mỹ được chọn là tiền tệ dự trữ của thế giới? Nó được đảm bảo bằng gì? Vì sao nó lại liên tục mất giá? Tại sao Cục dự trữ liên bang Mỹ (Federal Reserve-Fed) là một ngân hàng của tư nhân và do một số nhà tài phiệt sở hữu? Tại sao Phố Wall lại mạo hiểm chọn Hitler làm đối tượng rót vốn đầu tư? Vì sao rất nhiều tổng thống Mỹ luôn là đối tượng ám sát của những kẻ “tâm thần”? Vì sao kinh tế Nhật Bản một thời tăng trưởng lại liên tục ì ạch cả chục năm qua? Lạm phát là gì? Ai được lợi từ lạm phát? Có phải lạm phát cao là cách thức các thế lực cướp đi tài sản lao động của các dân tộc? Nguyên nhân sự sụp đổ kinh tế Đông Âu và nước Nga cũng như suy thoái kinh tế kéo dài của Nhật Bản? Vì sao xuất hiện cơn bão tài chính tiền tệ Đông Nam Á, Hàn Quốc năm 1997? Các nhà tư bản đã kéo tới “vặt lông” chú hổ Thái Lan như thế nào? Quỹ tiền tệ quốc tế IMF là gì? Vì sao các chuyên gia lại coi nó là công cụ bóc lột tài nguyên của các nước nghèo? Chính sách tiền tệ của Trung Quốc có ngăn được sự can thiệp và thao túng của giới tài phiệt thế giới không? Bong bóng kinh tế nhà đất và tín dụng thứ cấp của kinh tế Mỹ là gì? Vì sao thị trường tiền tệ thế giới lại sắp có chao đảo? Các nhà tài phiệt sẽ kiếm lời ra sao?
CHÍNH SÁCH MỚI VỀ TIỀN TỆ CỦA LINCOLN
Không có tiền thì không thể tiến hành chiến tranh, mà nếu vay của ngân hàng quốc tế thì chẳng khác nào tự treo thòng lọng vào cổ mình. Lincoln nghĩ trăm phương ngàn kế để tìm phương án giải quyết. Lúc đó, Dick Taylor – một người bạn cũ của ông ở Chicago - đã đề xuất với Lincoln một chủ ý, Chính phủ tự phát hành tiền tệ!
“Việc yêu cầu Quốc hội thông qua đề án này cũng như vấn đề trao quyền cho Bộ tài chính ấn hành tiền tệ sẽ có đầy đủ hiệu lực pháp luật nhằm giúp chi trả lương bổng cho binh sĩ, sau đó sẽ giúp anh giành được thắng lợi trong cuộc chiến mà anh tiến hành.” Lincoln hỏi liệu người dân Mỹ có tiếp nhận đồng tiền mới này hay không, Dick nói rằng “tất cả mọi người đều sẽ không có sự lựa chọn nào khác trong vấn đề này, chỉ cần anh tạo nên hiệu lực pháp lý đầy đủ cho loại tiền tệ mới này, Chính phủ đưa ra sự ủng hộ hoàn toàn, và chúng sẽ thông dụng giống như một loại tiền đích thực, bởi vì hiến pháp trao cho quốc hội quyền phát hành và quyền quy định giá trị tiền tệ.”
Sau khi nghe xong đề nghị này, Lincoln tỏ ra quá đỗi vui mừng, lập tức đề nghị Dick lập kế hoạch cho việc này. Biện pháp hết sức mới lạ này đã phá vỡ cách làm thường lệ của Chính phủ là cần phải vay tiền và chịu lãi suất cao của ngân hàng tư nhân. Loại tiền mới này sử dụng hoa văn màu xanh lục để phân biệt với tiền của các ngân hàng khác và được lịch sử gọi là “tiền xanh” (Greenback). Chỗ mới lạ đặc biệt của loại tiền mới này nằm ở chỗ nó hoàn toàn không có thế chấp bằng tiền vàng hay bạc, và lợi tức là 5% cho 20 năm.
Trong thời kỳ nội chiến, nhờ có sự phát hành của loại tiền này mà Mỹ đã khắc phục được tình trạng thiếu hụt tiền tệ nghiêm trọng của Chính phủ trong giai đoạn đầu của cuộc chiến. Điều này đã huy động một cách hiệu quả nhất tất cả các nguồn vốn của miền bắc nước Mỹ, tạo nên một cơ sở kinh tế vững chắc cho chiến thắng cuối cùng trước quân miền nam. Đồng thời, loại tiền này nhờ có giá thành thấp nên cũng đã trở thành loại tiền tích luỹ của ngân hàng miền Bắc, tín dụng ngân hàng của miền Bắc cũng nhờ đó mà được mở rộng, công nghiệp quốc phòng, xây dựng đường sắt, sản xuất nông nghiệp và mậu dịch thương nghiệp đều nhận được sự chi viện tài chính lớn chưa từng có so với trước đó.
Việc phát hiện những mỏ vàng lớn những năm 1848 đã khiến cho nền tài chính Mỹ dần dần thoát khỏi cục diện bất lợi và cực đoan do các ngân hàng châu Âu khống chế, và cũng chính nhờ vào sản lượng lớn những mỏ vàng này làm niềm tin nên loại tiền mới của Lincoln mới có thể được người dân tiếp nhận rộng rãi, đặt cơ sở tài chính đáng tin cậy cho việc giành thắng lợi trong cuộc chiến Nam – Bắc. Một điều nữa khiến người ta càng thêm kinh ngạc hơn là, loại tiền mới do Lincoln phát hành không hề gây ra lạm phát tiền tệ nghiêm trọng kiểu như trong thời kỳ chiến tranh độc lập, từ khi cuộc nội chiến nổ ra vào năm 1861 đến khi kết thúc vào năm 1865, chỉ số vật giá của toàn miền bắc Mỹ chỉ tăng một cách nhẹ nhàng từ 100 lên 216. Xem xét quy mô và sự nghiêm trọng về mức độ phá hoại của cuộc chiến so với những cuộc chiến có quy mô tương tự khác trên thế giới, chúng ta không thể không nói rằng đây là một kỳ tích tài chính. Ngược lại, miền nam cũng dùng phương thức lưu thông tiền giấy, nhưng hiệu quả thì khác xa một trời một vực, chỉ số vật giá của miền nam trong cùng một thời kỳ đã tăng từ 100 lên đến 2776. [32]
Trong suốt thời kỳ chiến tranh Nam - Bắc, Chính quyền Lincoln đã phát hành tổng cộng số tiền mới là 450 triệu đô-la Mỹ. Nhờ cơ chế vận hành đồng tiền mới này tốt như vậy cho nên tổng thống Lincoln đã xem xét hết sức nghiêm túc việc tiến hành trường kỳ hóa và pháp chế hóa việc phát hành loại tiền tệ không thế chấp này (Debt Free Money). Nhưng chính điều này đã như một đòn đau đánh vào lợi ích căn bản của trùm tài chính quốc tế. Nếu như mọi chính phủ đều không cần phải vay tiền của ngân hàng mà “thản nhiên” tự mình phát hành tiền tệ, thì sự lũng đoạn của các ngân hàng đối với việc phát hành tiền tệ sẽ không còn tồn tại nữa, như thế lẽ nào không phải là ngân hàng đã trơ mỏ rồi sao?
Ngay sau khi nghe được tin tức này, tờ London Times đại diện cho Ngân hàng Anh quốc đã lập tức đăng tải tuyên bố:
Nếu như chính sách tài chính mới của Mỹ (tiền xanh Lihncon) khiến người ta chán ghét được thực thi vĩnh viễn, chính phủ có thể phát hành khống nguồn tiền tệ của mình. Chính phủ có thể hoàn trả hết mọi khoản nợ đồng thời sẽ thu được những khoản tiền cần thiết để phát triển thương nghiệp, sẽ biến thành một quốc gia phồn vinh chưa từng có trên thế giới, nguồn nhân tài ưu tú và mọi tài nguyên vốn có trên thế giới này sẽ chảy dồn về bắc Mỹ. Quốc gia này cần phải bị phá hủy, nếu không nó sẽ phá hủy từng quốc gia theo chế độ quân chủ trên thế giới.
Chính phủ của Anh và hiệp hội ngân hàng New York đã bày tỏ sự phẫn nộ đòi hỏi phải thực hiện các hành động đáp trả. Ngày 28 tháng 12 năm 1861, họ tuyên bố đình chỉ chi trả bằng tiền kim loại cho Chính phủ của Lincoln. Một số ngân hàng ở New York còn đình chỉ việc rút vàng của những người gửi tiết kiệm bằng vàng, đồng thời tuyên bố hủy bỏ việc chấp nhận dùng vàng mua công trái của Chính phủ. Các ngân hàng ở nhiều nơi trên nước Mỹ cũng rầm rộ hưởng ứng. Họ đến Washington để đề xuất những phương án thay đổi vô nguyên tắc đối với tổng thống Lincoln, đòi thực hiện lại những cách làm trong quá khứ, đem những công trái có lợi tức cao bán cho các ngân hàng châu Âu; đem vàng của Chính phủ Mỹ gửi vào các ngân hàng tư nhân để dự trữ phát hành tín dụng, các ngân hàng phát tài lớn; Chính phủ Mỹ trưng thu thuế của các ngành công nghiệp và người dân để chi trả cho chiến tranh.
Đương nhiên, Tổng thống Lincoln đã cự tuyệt yêu cầu hoàn toàn vô lý này của các ngân hàng. Chính sách của ông rất được lòng dân, người dân Mỹ đã nô nức mua hết toàn bộ công trái, và căn cứ vào pháp luật, các công trái này được sử dụng như là hiện kim.
Các ngân hàng thấy kế sách bất thành bèn nghĩ ra kế khác. Các ngân hàng phát hiện thấy rằng trong luật phát hành tiền xanh Lihncon của quốc hội hoàn toàn không đề cập đến việc nên dùng vàng để chi trả lãi tức công trái hay không. Vì vậy, họ cho phép dùng loại tiền mới của Lincoln để mua công trái, nhưng phần lợi tức phải dùng tiền kim loại để chi trả. Đây là một bước trong kế hoạch hoàn chỉnh nhằm gắn kết đồng tiền mới của Lincoln tại Mỹ với giá trị của vàng. Trong khi đó, các ngân hàng châu Âu tích lũy đồng bảng Anh nhiều hơn bất cứ đồng tiền nào thời đó và nhiều hơn so với tiền vàng của Mỹ. Sự thỏa hiệp giữa ngân hàng Mỹ và quốc hội Mỹ đã khiến cho thế lực tài chính quốc tế lợi dụng việc khống chế tổng lượng xuất nhập khẩu vàng đối với nước Mỹ gián tiếp đạt được hiệu quả thao túng giá trị tiền tệ của Mỹ.
|
|
|
(Đang đi) "Ôi giá lên ôi giá lên" (Vấp phải hòn đá) "Ôi ngón chân, ôi ngón chân"
|
Số vàng tặng cho bài viết này (cho điểm) : 0 Lượng
|
|
oi_ngon_chan
Thành viên mới
Online:
Bài viết: 18
Gia nhập: 22/10/2008
Giới tính: Nam  Ngân quỹ: 44 Lượng
Nhà đầu tư mới
|
Gửi: 07/12/2008 lúc 15:41 Th.báo nội dung xấu | Bình chọn bài viết |
ĐỒNG MINH NGA CỦA LINCOLN
Trong thời khắc nguy ngập khi các quốc vương ở châu Âu đã chuẩn bị sẵn sàng để đem quân sang chia cắt nước Mỹ, Lincoln đã lập tức nhớ đến kẻ thù truyền kiếp của các quốc vương châu Âu – nước Nga. Lincoln đã phái đặc sứ cầu cứu Sa hoàng Alechxande đệ nhị. Khi nhận được thư của Lincoln, Sa hoàng không mở ra ngay, mà nâng nâng trên tay, rồi nói rằng: “Trước khi mở bức thư này hoặc biết được nội dung của nó, chúng ta sẽ đồng ý trước với bất cứ yêu cầu nào mà bức thư đề xuất.” [33]
Nguyên nhân Sa hoàng chuẩn bị tham gia quân sự vào cuộc nội chiến Mỹ có mấy mặt sau đây. Một là sự lo lắng “môi hở răng lạnh”, vì trong thời kỳ Alechxande đại đế trị vì, các thế lực tài chính quốc tế quét sạch châu Âu đã gõ cửa điện Kremli. Học theo kinh nghiệm của các quốc gia tài chính “tiên tiến” ở châu Âu, các ngân hàng kịch liệt yêu cầu thành lập ngân hàng trung ương tư hữu, và Sa Hoàng đã sớm nhận ra chiêu độc trong việc này nên đã kiên quyết từ chối yêu cầu này. Khi nhìn thấy tổng thống Lincoln - một thế lực phản đối tài chính quốc tế - rơi vào tình cảnh nguy hiểm, nếu như không ra tay tương trợ, thì Alechxande đệ nhị e rằng, chẳng mấy chốc mối nguy ấy sẽ ập đến với chính mình. Một nguyên nhân khác là ngày 3 tháng 3 năm 1861 trước khi nổ ra cuộc nội chiến Nam – Bắc ở Mỹ, Alechxande đệ nhị đã tuyên bố pháp lệnh giải phóng nông nô, và về mặt phế bỏ chế độ nô lệ này, cả hai bên đều có những quan điểm chung. Và còn một điều nữa là cuộc chiến tranh Crimean của nước Nga vừa mới kết thúc năm 1856 đã đại bại dưới tay của liên quân Anh – Pháp, nên Alechxande đệ nhị chưa nguôi chuyện rửa hận.
Chưa tuyên chuyến, hạm đội của Nga dưới sự thống lĩnh của tướng Liviski đã tiến vào cảng New York vào ngày 24 tháng 9 năm 1663. Ngày 12 tháng 10, hạm đội Thái Bình Dương của Nga dưới sự thống soái của tướng Popov đã đến San Francisco . Đối với hành động của nước Nga, Wales đã bình luận rằng: “Họ đã đến khi miền nam đang ở vào lúc triều lên còn miền bắc ở vào thế triều xuống, sự xuất hiện của họ đã tạo nên sự do dự của Anh và Pháp, cuối cùng đã cho Lincoln thời gian xoay chuyển được cục diện.”
Sau khi nội chiến kết thúc, để chi trả khoản phí tổng cộng 7,2 triệu đô-la Mỹ cho hạm đội của nước Nga, Chính phủ của Mỹ đã chần chừ kéo dài thời gian. Bởi vì hiến pháp không trao cho Tổng thống quyền chi trả chi phí chiến tranh cho Chính phủ nước ngoài, Tổng thống Johanson khi đó đã đạt được hiệp ước dùng chính vùng đất Alaska mua của nước Nga để chi trả khoản chi phí chiến tranh. Trong lịch sử, vụ việc này được gọi là “Sự điên rồ của Seward”. Seward là quốc vụ khanh khi đó của Hoa Kỳ, và đã bị dân chúng kịch liệt chỉ trích khi bỏ ra 7,2 triệu đô-la để đi mua lại một vùng đất hoang hóa không đáng một xu khi đó của Nga.
Cũng vì một nguyên nhân tương tự mà Alechxande đệ nhị đã bị hành thích vào năm 1867, nhưng cuộc hành thích đã không thành công. Ngày 1 tháng 3 năm 1881, Alechxande cuối cùng cũng chết vào tay thích khách.
AI LÀ HUNG THỦ THẬT SỰ ÁM SÁT LINCOLN ? Bismarck – vị thủ tướng kiên cường và giàu lòng hy sinh của nước Đức đã từng chỉ ra một cách sắc bén rằng:
Ông ấy (Lincoln) được quốc hội trao quyền tiến hành vay tiền thông qua việc bán khoản công trái cho người dân, như vậy thì Chính phủ và quốc gia sẽ thoát được khỏi cái bẫy cài sẵn của các nhà tài chính nước ngoài. Trong khi họ (các nhà tài chính quốc tế) hiểu rõ được rằng nước Mỹ sẽ thoát khỏi vòng khống chế của họ, thì ngày chết của Lincoln chẳng còn mấy xa xôi.
Sau khi ra sắc lệnh giải phóng nô lệ da đen và thống nhất miền nam, ngay lập tức Lincoln đã tuyên bố xóa toàn bộ các khoản nợ chiến tranh mà miền nam đã gánh chịu. Các ngân hàng quốc tế chu cấp khoản lớn tài chính cho miền nam trong suốt cuộc chiến, đã bị tổn thất nghiêm trọng vì quyết định này. Để trả thù Lincoln, đặc biệt là để lật đổ chính sách mới về tiền tệ của Lincoln, họ đã tập hợp các thế lực bất mãn đối với vị tổng thống này, bí mật lên kế hoạch ám sát tổng thống. Với họ, chuyện chỉ đạo đám côn đồ ám sát tổng thống thực tế không phải là một việc khó khăn.
Sau khi Lincoln bị ám sát, dưới sự thao túng của các thế lực tài chính quốc tế, quốc hội tuyên bố phế bỏ chính sách tiền tệ mới của Lincoln, giới hạn của việc phát hành tiền tệ mới của Lincoln không được vượt quá 400 triệu đô-la.
Năm 1972, có người hỏi Bộ tài chính Mỹ rằng, với số tiền mới 450 triệu đô-la Mỹ của Lincoln phát hành, chính phủ rốt cuộc đã tiết kiệm được bao nhiêu lãi suất. Sau mấy tuần tính toán kỹ lưỡng, câu trả lời của Bộ tài chính là: nhờ tổng số tiền Lincoln tự phát hành cho Chính phủ Mỹ mà quốc gia này đã tiết kiệm được 4 tỉ đô-la lợi nhuận. [34]
Cuộc chiến tranh nam bắc của Mỹ, về căn bản là một cuộc tranh giành lợi ích kịch liệt giữa các thế lực tài chính quốc tế cũng như những người đại diện cho các thế lực đó và Chính phủ Mỹ trong việc thống soái quyền phát hành tiền tệ quốc gia và chính sách tài chính tiền tệ của Mỹ. Trong thời gian hơn một trăm năm sau cuộc chiến tranh nam bắc, đôi bên đã tiến hành những cuộc chiến tàn khốc, tổng cộng đã có 7 tổng thống Mỹ vì cuộc chiến này mà bị ám sát, nhiều nghị sĩ bị thủ tiêu. Mãi đến năm 1913, việc thành lập hệ thống ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ đã đánh dấu cho thắng lợi mang tính quyết định của ngân hàng quốc tế. Thật đúng như Bismarck đã nói:
Cái chết của Lincoln là sự tổn thất nghiêm trọng của thế giới cơ đốc giáo. Nước Mỹ có thể không còn ai có thể đi lại con đường vĩ đại của ông, còn các ngân hàng sẽ lại một lần nữa khống chế những ai giàu có. Tôi lo rằng các ngân hàng nước ngoài với những thủ đoạn cao siêu và tàn bạo sẽ dành được sự giàu có của nước Mỹ, sau đó dùng nó để hủy hoại nền văn minh hiện đại một cách có hệ thống.
|
|
|
(Đang đi) "Ôi giá lên ôi giá lên" (Vấp phải hòn đá) "Ôi ngón chân, ôi ngón chân"
|
Số vàng tặng cho bài viết này (cho điểm) : 0 Lượng
|
|
oi_ngon_chan
Thành viên mới
Online:
Bài viết: 18
Gia nhập: 22/10/2008
Giới tính: Nam  Ngân quỹ: 44 Lượng
Nhà đầu tư mới
|
Gửi: 07/12/2008 lúc 15:43 Th.báo nội dung xấu | Bình chọn bài viết |
SỰ THỎA HIỆP CHÍ MẠNG: “PHÁP LỆNH NGÂN HÀNG QUỐC GIA” NĂM 1863
Vai trò mà tôi đã đóng góp trong việc thúc dục cho ra đời pháp lệnh ngân hàng quốc gia là sai lầm tài chính nghiêm trọng nhất trong cuộc đời. Sự lũng đoạn (cung ứng tiền tệ) mà nó (pháp lệnh ngân hàng quốc gia) sản sinh ra sẽ ảnh hưởng đến tất cả các phương diện của đất nước này. Nó cần phải bị phế bỏ, nhưng trước khi điều này xảy ra, đất nước này sẽ chia thành hai phía, một bên là người dân, còn bên kia là ngân hàng, tình huống này vẫn chưa từng xuất hiện trong lịch sử của đất nước này.
Bộ trưởng tài chính Mỹ Salomon Ches (1861 – 1864)
Sau khi cuộc chiến tranh Nam - Bắc bùng nổ, Lincoln đã cự tuyệt khoản lợi tức cắt cổ từ 24% đến 36% của Rothschild và các đại diện khác của họ ở Mỹ, chuyển sang trao quyền cho Bộ tài chính phán hành “tín phiếu chính phủ Mỹ” (United States Notes) của riêng mình, hay còn được gọi là bạc xanh. Pháp lệnh tiền tệ (Legal Tender Atc) được thông qua tháng 2 năm 1862 . Pháp lệnh này trao quyền cho Bộ tài chính phát hành 150 triệu đồng tiền xanh, liền sau đó vào tháng 7 năm 1862 và tháng 3 năm 1863, lại trao quyền cho Bộ tài chính phát hành thêm 150 triệu tiền xanh nữa. Nói chung, trong thời kỳ nội chiến, tổng số tiền xanh được phát hành đã lên đến 450 triệu.
Việc phát hành tiền xanh của Lincoln chẳng khác nào chọc vào tổ ong vò vẽ của ngân hàng quốc tế, các ngân hàng đau như bò đá trước hành động này của Tổng thống, nhưng ngược lại, tầng lớp nhân dân và các ngành công nghiệp khác thì lại tỏ thái độ hết sức hoan nghênh đối với loại tiền xanh này. Đồng tiền xanh của Lincoln được lưu hành mãi đến năm 1994 trong hệ thống tiền tệ của Mỹ.
Năm 1863, khi cuộc chiến đã bước đến hồi quyết định nhất, Lincoln cần nhiều tiền xanh hơn nữa để giành được thắng lợi. Nhằm được trao quyền phát hành tiền xanh lần thứ ba, ông không thể không cúi đầu trước các thế lực của các ngân hàng trong quốc hội đề ra một sự thỏa hiệp quan trọng, ký vào pháp lệnh “ngân hàng quốc gia” năm 1863. Pháp lệnh này trao cho Chính phủ quyền phê chuẩn cho ngân hàng quốc gia (National Bank) phát hành chứng chỉ ngân hàng với tiêu chuẩn thống nhất. Những ngân hàng này trên thực tế sẽ phát hành tiền tệ quốc gia của Mỹ. Một điểm hết sức quan trọng chính là những ngân hàng này dùng trái phiếu chính phủ Mỹ (Gorvernment Bond) làm nguồn dự trữ cho việc phát hành chứng chỉ ngân hàng, trên thực tế sẽ khóa chặt sự phát hành tiền tệ của Mỹ với các khoản vay của Chính phủ, và như thế thì Chính phủ sẽ mãi không thể hoàn trả hết các khoản nợ này.
John Kenneth Galbraith - nhà kinh tế học lừng danh người Mỹ - đã từng chỉ ra một cách sắc bén rằng: “Rất nhiều năm sau khi cuộc nội chiến kết thúc, mỗi năm, Chính phủ liên bang đều thu được khoản thặng dư rất lớn. Nhưng nó lại không thể hoàn trả hết những khoản nợ mà nó đã vay, bồi hoàn toàn bộ những khoản nợ Chính phủ đã phát hành ra, bởi vì như vậy đồng nghĩa với việc chẳng còn khoản nợ nào để làm thế chấp cho quỹ tiền tệ quốc gia. Việc hoàn trả hết các khoản nợ cũng đồng nghĩa là đã phá hủy toàn bộ sự lưu thông tiền tệ.”
Âm mưu tái thiết lập một mô hình ngân hàng theo kiểu Ngân hàng Anh ở Mỹ của các ngân hàng quốc tế cuối cùng đã trở thành hiện thực. Từ đây, lợi tức lâu dài từ các khoản nợ của Chính phủ Mỹ sẽ chảy vào túi các ngân hàng, và nó chẳng khác nào một sợi thòng lọng ngày càng siết chặt vào cổ nhân dân Mỹ. Đến năm 2006, tổng khoản vay nợ của Chính phủ liên bang Mỹ đã lên đến con số khổng lồ 8,6 vạn tỉ đô-la, bình quân mỗi nhà có bốn người phải gánh chịu một khoản nợ quốc gia lên đến 112000 đô-la, và tốc độ tăng trưởng tổng nợ cả đất nước Mỹ trong mỗi giây là 20000 đô-la! Khoản chi trả lợi tức của Chính phủ liên bang Mỹ đối với nợ quốc gia chỉ đứng sau ngân sách dành cho y tế và quốc phòng, và đến năm 2006 sẽ đạt đến con số khổng lồ 400 tỉ đô-la Mỹ.
Bắt đầu từ năm 1864, các ngân hàng có thể đời đời kiếp kiếp hưởng thụ bữa đại tiệc lợi tức từ khoản nợ quốc gia này của Mỹ. Chỉ vì xem nhẹ sự khác biệt giữa việc chính phủ trực tiếp phát hành tiện tệ với việc chính phủ phát hành công trái còn ngân hàng phát hành tiền, mà các nhà ngân hàng đã tạo nên một sự bất công lớn nhất trong lịch sử loài người. Người dân bị ép phải nộp thuế gián tiếp qua các ngân hàng, mà những khoản thuế này chính là tài sản và tiền bạc do mồ hôi nước mắt của họ làm nên!
Mãi đến ngày nay, Trung Quốc là một trong số ít quốc gia trên thế giới có chính sách phát hành tiền tệ do chính phủ trực tiếp điều hành. Nhờ đó khoản lợi tức phải chi trả mà Chính phủ và người dân đã tiết kiệm được trở thành nhân tố quan trọng không thể thiếu khiến Trung Quốc có thể phát triển nhanh và lâu dài như vậy. Nếu có ai đó đưa ra đề xuất phải học hỏi “kinh nghiệm tiến bộ” của nước ngoài, ngân hàng nhân dân cần phải dùng nợ quốc gia của Chính phủ làm thế chấp để phát hành đồng nhân dân tệ, thì người dân Trung Quốc cần phải coi chừng. Lincoln không phải là không biết đến nguy cơ đe dọa vĩnh cửu này và dự tính rằng, sau khi thắng cử ở nhiệm kỳ kế tiếp vào năm 1865, ông sẽ phế bỏ pháp lệnh này, nhưng chỉ 42 ngày sau khi trúng cử, Lincoln đã bị ám sát. Các thế lực của ngân hàng quốc tế trong quốc hội thừa thắng xông lên. Họ cho rằng, cần phải loại bỏ đồng tiền xanh của Lincoln thì mới có thể kê cao gối mà ngủ được. Ngày 12 tháng 4 năm 1866, quốc hội đã thông qua “Pháp lệnh thu hồi” (Contraction Act), hòng thu hồi tất cả các đồng tiền xanh hiện đang lưu thông, và đổi lại thành tiền kim loại, sau đó gạt bỏ tiền xanh ra khỏi hệ thống lưu thông, khôi phục ***** bản vị vàng.
Ở một đất nước vừa thoát khỏi cuộc chiến điêu tàn cần khôi phục, chẳng có gì hoang đường hơn là một chính sách kiểm soát gắt gao tiền tệ. Lượng tiền tệ lưu thông 1,8 tỉ đô-la Mỹ từ năm 1866 (tức khoảng 50,46 đô-la Mỹ mỗi người), đã sụt giảm xuống còn 1,3 tỉ đô-la Mỹ năm 1867 (tức 44 đô-la Mỹ mỗi người), 600 triệu đola Mỹ năm 1876 (mỗi người 14,6 đô-la), cuối cùng là giảm xuống còn 400 triệu đô-la Mỹ (mỗi người 6,67 đô-la) năm 1886, trong bối cảnh một nước Mỹ với nhiều vết thương chiến tranh cần chữa trị, một nền kinh tế cần được phục hồi và phát triển, đồng thời tình hình dân số tăng nhanh, nhưng lại gặp cảnh thiếu hụt nghiêm trọng lượng cung ứng tiền tệ, đa số người dân đều cho rằng sự phồn vinh rồi suy thoái là quy luật của phát triển kinh tế. Nhưng trên thực tế, nguồn cung ứng tiền tệ được thao túng khi buông khi siết bởi các ngân hàng quốc tế mới là nguồn cơn thực sự của vấn đề.
Mùa đông năm 1872, các ngân hàng quốc tế đã phái Ernest Seyd đem theo một khoản tiền lớn từ Anh vào Mỹ, thông qua việc hối lộ các quan chức để thông qua “pháp lệnh tiền đúc năm 1873” (Coinage Act), lịch sử gọi là “pháp lệnh ngu xuẩn 1873” (Crime of 1873), đích thân Ernest Seyd đã soạn thảo pháp lệnh này, và nó đã gạt bỏ tiền bằng bạc ra khỏi hệ thống lưu thông tiền tệ, tiền vàng trở thành thứ tiền tệ duy nhất. Pháp lệnh này không còn nghi ngờ gì về hiệu ứng phủ sương lên tuyết cho dòng lưu thông tiền tệ vốn đã thiếu hụt trầm trọng. Sau khi xong việc, Ernest Seyd vênh váo tự đắc nói rằng: “Mùa đông năm 1872, ta đã làm một chuyến đến Mỹ, ta đã đảm bảo chắc chắc việc thông qua pháp lệnh tiền đúc để phế bỏ tiền bạc. Cái mà ta đại diện là lợi ích của các chủ tịch ngân hàng Anh quốc. Đến năm 1873, tiền vàng đã trở thành loại tiền kim loại duy nhất.”
Nhưng sự thật, tác dụng của việc loại trừ tiền bạc ra khỏi lĩnh vực lưu thông tiền tệ quốc tế là nhằm để đảm bảo chắc chắn sức khống chế tuyệt đối của các ngân hàng quốc tế đối với lượng cung ứng tiền tệ thế giới, đối phó với việc khai thác các mỏ bạc với số lượng ngày càng nhiều, còn sản lượng và việc thăm dò các mỏ vàng ngày càng ít đi, sau khi đã nắm giữ được việc khai thác các mỏ vàng thế giới, đương nhiên ngân hàng quốc tế không muốn lưu lượng tiền bạc mà họ khó khống chế được lại can dự vào địa vị bá quyền tài chính thế giới của họ. Cho nên kể từ năm 1871, bạc trắng đã được loại trừ đồng loạt ở các quốc gia Đức, Anh, Hà Lan, Áo, Scandinavis, dẫn đến việc lượng lưu thông tiền tệ của mỗi quốc gia bị co lại là rất lớn, từ đó đã dẫn đến cuộc đại suy thoái kinh tế nghiêm trọng kéo dài 20 năm ở châu Âu (Long Depression, 1873 – 1896).
Ở Mỹ, “pháp lệnh thu hồi” và “pháp lệnh tiền đúc” đã trực tiếp gây nên cuộc đại suy thoái kinh tế từ năm 1873 đến năm 1879. Trong khoảng thời gian ba năm này, tỉ lệ thất nghiệp của Mỹ đã cao đến 30%, người dân Mỹ đã cương quyết yêu cầu phải khôi phục lại thời kỳ lưu hành song song tiền bạc và tiền xanh Lincoln. Dân chúng Mỹ thành lập một cách tự phát các tổ chức như hội bạc trắng (US Silver Commission), hội tiền xanh (Greenback Party), thúc đẩy cả nước khôi phục lại chế độ lưu hành song song tiền vàng và tiền bạc, phát hành lại tiền xanh Lincoln vốn được người dân rất hoan nghênh.
Báo cáo của hội bạc trắng ở Mỹ đã chỉ ra: “Thời kỳ trung cổ đen tối chính là do tiền tệ thiếu hụt và giá cả sụt giảm gây nên. Không có tiền tệ, không có văn minh, cung ứng tiền tệ giảm, văn minh tất nhiên sẽ tiêu vong. Thời cơ đốc giáo La Mã, đế quốc có tổng cộng lượng lưu thông tiền tệ kim loại tương đương với 1,8 tỉ đô-la Mỹ, đến cuối thế kỷ 15, lượng lưu thông tiền tệ kim loại (của châu Âu) chỉ còn lại 200 triệu đô-la Mỹ. Lịch sử đã chứng minh rằng không có bất cứ sự thay đổi có tính chất tai họa nào sánh bằng việc đế quốc La Mã chuyển sang thời trung cổ đen tối.”
Nhưng đối diện với những đòi hỏi của dân chúng Mỹ là thái độ dứt khoát lạnh lùng của hiệp hội các nhà ngân hàng Mỹ (The American Bankers Association). Trong thư của hiệp hội này gửi cho các hội viên đã chỉ ra:
Chúng tôi đề nghị các ngài hãy dốc toàn lực dựa vào các nhật báo và tạp chí danh tiếng, đặc biệt là tổ chức nông nghiệp và tôn giáo, kiên quyết phản đối Chính phủ phát hành tiền xanh, các ngài phải chấm dứt trợ giúp những ứng cử viên nào không tỏ ý phản đối việc Chính phủ phát hành tiền xanh. Việc gạt bỏ quyền phát hành tiền tệ quốc gia của ngân hàng hoặc khôi phục việc phát hành tiền xanh của Chính phủ sẽ khiến cho (quốc gia) có thể cung ứng tiền tệ cho người dân, điều này sẽ phương hại nghiêm trọng đến lợi nhuận của ngân hàng cũng như lợi ích của những người cho vay như chúng ta. Lập tức hẹn gặp các nghị viên quốc hội ở khu vực của các ngài, yêu cầu họ bảo vệ lợi ích của chúng ta, như vậy chúng ta có thể khống chế lập pháp.
Năm 1881, trong cảnh kinh tế tiêu điều, Tổng thống thứ 20 của Mỹ là James bước lên đài chính trị và đã nhìn thấy cũng như nắm bắt được điểm cốt yếu của vấn đề. Ông nói rằng:
Ở bất cứ quốc gia nào, ai không chế được việc cung ứng tiền tệ thì người đó trở thành người chủ tuyệt đối của các ngành công, thương nghiệp hiện có. Trong khi hiểu rõ được toàn bộ hệ thống (tiền tệ) do một thiểu số người dùng phương pháp này hay phương pháp kia không chế một cách hết sức dễ dàng, thì bạn không cần người khác nói cho bạn biết về nguồn gốc của việc lạm phát và siết chặt tiền tệ.
Lời phát biểu này mới được phát đi trong mấy tuần thì Tổng thống đã bị Charles Guiteau - một tên “mắc bệnh tâm thần” ám sát vào ngày 2 tháng 7 năm 1881. Tổng thống bị bắn hai phát, và cuối cùng qua đời ngày 19 tháng 9.
Trong suốt thế kỷ 19, các ngân hàng quốc tế đã thành công với sách lược “dùng quyền lực của đồng tiền thần thánh để thu được vương quyền thần thánh”. Tại Mỹ, “quyền lực thần thánh của đồng tiền cũng dần làm tan rã dân quyền thiêng liêng”. Sau những cuộc đọ sức kịch liệt kéo dài hàng trăm năm với Chính phủ dân cử của nước Mỹ, các ngân hàng quốc tế đã chiếm thế thượng phong. Các nhà sử học của Mỹ đã chỉ ra rằng, tỉ lệ hy sinh của các đời tổng thống Mỹ còn cao hơn nhiều so với tỉ lệ hy sinh bình quân của thuỷ quân lục chiến Mỹ.
Khi các ngân hàng nghênh ngang đắc ý đã nắm được trong tay pháp lệnh ngân hàng quốc gia năm 1863, thì mục tiêu thành lập một ngân hàng với mô hình của Ngân hàng Anh ở Mỹ chỉ còn trong gang tấc. Một ngân hàng trung ương tư hữu hoàn toàn khống chế quyền phát hành tiền tệ của nước Mỹ, một ngân hàng của các đại gia ngân hàng đã manh nha hình thành.
|
|
|
(Đang đi) "Ôi giá lên ôi giá lên" (Vấp phải hòn đá) "Ôi ngón chân, ôi ngón chân"
|
Số vàng tặng cho bài viết này (cho điểm) : 0 Lượng
|
|
oi_ngon_chan
Thành viên mới
Online:
Bài viết: 18
Gia nhập: 22/10/2008
Giới tính: Nam  Ngân quỹ: 44 Lượng
Nhà đầu tư mới
|
Gửi: 07/12/2008 lúc 15:43 Th.báo nội dung xấu | Bình chọn bài viết |
CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG MỸ: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG TƯ HỮU
Một quốc gia công nghiệp vĩ đại bị hệ thống tín dụng khống chế một cách cứng nhắc. Sự phát triển của quốc gia này và mọi hoạt động (kinh tế) của chúng ta hoàn toàn nằm trong tay một số ít người. Chúng ta đã rơi vào thế thống trị cam go nhất, một kiểu khống chế triệt để nhất trên thế giới. Chính phủ không còn có ý kiến tự do nữa, không còn quyền định tội tư pháp nữa, không còn là chính phủ được lựa chọn bởi đa số người dân nữa, mà là chính phủ (vận hành) dưới sự cưỡng bức và ý kiến của thiểu số có quyền chi phối. Rất nhiều nhân sĩ công thương nghiệp của quốc gia này đều đang lo sợ một điều gì đó. Họ biết thứ quyền lực vô hình này được tổ chức theo cách như vậy, tĩnh lặng vô tình như vậy, phủ khắp như vậy, khóa chặt lẫn nhau như vậy, triệt để và toàn diện như vậy, đến nỗi họ không dám công khai lên án thứ quyền lực này. [1]
Woodrow Wilson - Tổng thống thứ 28 của Mỹ
CHƯƠNG 3 CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG MỸ: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG TƯ HỮU
Có thể không quá khoa trương khi nói rằng, mãi đến ngày nay, Trung Quốc có thể cũng chẳng có mấy nhà kinh tế học biết được một thực tế rằng, Cục dự trữ liên bang Mỹ chính là ngân hàng trung ương tư hữu. Cái gọi là “Ngân hàng dự trữ liên bang”, thực ra vừa chẳng phải là “liên bang”, mà cũng chẳng có “dự trữ”, và cũng không đáng được xem là “ngân hàng”.
Đa số các quan chức của chính phủ Trung Quốc có thể sẽ nghĩ rằng, đương nhiên chính phủ Mỹ phát hành ra đồng đô la, nhưng trên thực tế, về cơ bản, chính phủ Mỹ không có quyền phát hành tiền tệ! Năm 1963, sau khi tổng thống Kennedy bị ám sát, chính phủ Mỹ cuối cùng đã mất đi quyền phát hành “đô-la Mỹ bạc trắng”. Muốn có được đồng đô-la, Chính phủ Mỹ cần phải đem thu nhập từ thuế tương lai (công trái) của người dân Mỹ, thế chấp cho cục dự trữ liên bang Mỹ tư hữu, “chứng chỉ cục dự trữ liên bang Mỹ” do cục dự trữ liên bang Mỹ phát hành, đây chính là “đô-la Mỹ”.
Tính chất và lai lịch của “cục dự trữ liên bang Mỹ” trong giới học thuật và giới truyền thông Mỹ, là một “vùng cấm” mọi người tự hiểu với nhau mà chẳng cần nói ra. Hằng ngày, giới truyền thông Mỹ có thể bàn tán về vô vàn vấn đề chẳng có chút quan trọng gì kiểu như “hôn nhân đồng tính”, nhưng những vấn đề quan trọng liên quan đến việc ai đang khống chế chuyện phát hành tiền tệ, liên quan đến lợi ích chi trả lợi tức các khoản vay cá nhân thì lại hầu như chẳng có chữ nào đá động đến.
Đọc đến đây, nếu bạn có cảm giác kinh ngạc, vấn đề sẽ trở nên quan trọng, trong khi bạn lại không hay biết. Chương này sẽ nói về bí mật của việc thành lập Cục dự trữ liên bang Mỹ - vấn đề đã bị giới truyền thông Mỹ cố ý “bỏ qua”. Khi chúng ta dùng một chiếc kính hiển vi để soi lại giây phút cuối cùng của một sự kiện trọng đại ảnh hưởng đến tiến trình lịch sử thế giới thì sự phát triển của sự kiện sẽ chính xác đến mức ta phải lấy lấy tiếng tích tắc của đồng hồ làm đơn vị đo lường.
Ngày 23 tháng 12 năm 1913, chính phủ dân cử của Mỹ cuối cùng đã bị quyền lực đồng tiền la***.
ĐẢO JEKYLL THẦN BÍ: CÁI NÔI CỦA CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG MỸ
Đêm ngày 22 tháng 11 năm 1910, một đoàn tàu rèm che kín mít chậm rãi tiến về phía Nam. Những người ngồi trong toa tàu đều là những nhà tài phiệt ngân hàng quan trọng nhất nước Mỹ, không một ai biết được mục đích chuyến đi này. Điểm dừng cuối cùng của đoàn tàu là đảo Jekyll thuộc bang Georgia xa mấy trăm dặm Anh.
Đảo Jekyll của bang Georgia là một quần đảo nghỉ đông thuộc sở hữu của những nhân vật giàu có siêu hạng ở Mỹ. Các thế lực tai to mặt lớn mà đứng dầu là JP Morgan đã thành lập một câu lạc bộ đi săn trên đảo Jekyll. Một phần sáu của cải thế giới dồn vào tay các hội viên của câu lạc bộ này, và tư cách hội viên chỉ có thể kế thừa chứ không thể chuyển nhượng. Lúc này, câu lạc bộ nhận được thông báo có người cần sử dụng hội sở của câu lạc bộ này trong khoảng hai tuần, và như vậy, trong khoảng thời gian này, tất cả các thành viên không được phép sử dụng hội sở. Toàn bộ nhân viên phục vụ của hội sở đều là những người được bố trí đến từ đất liền, chỉ được xưng tên chứ tuyệt đối không được sử dụng họ đối với những người khách đến hội sở này. Trong phạm vi 50 dặm Anh, hội sở được đảm bảo rằng xung quanh không có sự xuất hiện của bất cứ tay săn tin nào.
Ngay sau khi công việc chuẩn bị hoàn tất, những vị khách này xuất hiện tại hội sở. Tham gia hội nghị tuyệt mật này có:
Nelson Aldrich, thượng nghị sĩ, Chủ tịch ủy ban tiền tệ quốc gia (National Monetary Commission), ông ngoại của Nelson Rockefeller A. Piatt Andrew, trợ lý bộ trưởng bộ tài chính Mỹ Frank Vanderlip, Chủ tịch National City Bank Henry P. Davison, cổ đông cao cấp của công ty J.P Morgan Charles D. Norton, Chủ tịch First National Bank Benjamin Strong, trợ lý của J.P Morgan và Paul Warburg, dân di cư gốc Do Thái đến từ Đức. Năm 1901, Paul đến Mỹ và hùn một khoản vốn lớn vào công ty Kuhn Loeband Company. Là đại diện của dòng họ Rothschild ở Anh và Pháp, đảm nhận chức tổng công trình sư của Cục dự trữ liên bang Mỹ kiêm chủ tịch đầu tiên Cục dự trữ liên bang Mỹ.
Những nhân vật quan trọng này đến hòn đảo nhỏ hẻo lánh mà chẳng có hứng thú gì với việc săn bắn. Họ đến đây với một nhiệm vụ chủ yếu là khởi thảo một văn kiện quan trọng: Dự luật dự trữ liên bang (Federal Reserve Act).
Paul Warburg là một cao thủ về lĩnh vực ngân hàng, tinh thông hầu như mọi khâu nhỏ trong hoạt động ngân hàng. Nếu có ai đó thắc mắc với các câu hỏi cần giải đáp, Paul không chỉ nhẫn nại trả lời mà còn giảng giải không ngớt về nguồn gốc lịch sử sâu xa của mỗi một khái niệm chi tiết. Ai cũng khâm phục kiến thức uyên bác trong lĩnh vực ngân hàng của ông. Paul hiển nhiên trở thành người khởi thảo đồng thời là người giải đáp mọi vấn đề trong việc xây dựng văn kiện.
Nelson Aldrich là người ngoại đạo duy nhất trong số những nhân vật có mặt ở đây. Ông phụ trách chỉnh sửa nội dung văn kiện sao cho phù hợp với yêu cầu chính xác của chính trị và có thể được chấp nhận ở quốc hội. Những người khác đại diện cho lợi ích của các tập đoàn ngân hàng khác nhau. Họ tiến hành tranh luận kịch liệt suốt 9 ngày liền xung quanh chi tiết phương án mà Paul đề xuất, cuối cùng đã đi đến thống nhất.
Do cuộc khủng hoảng ngân hàng năm 1907 nên trong mắt người dân Mỹ, hình ảnh của các nhà ngân hàng không còn mấy đẹp đẽ. Điều này khiến cho đa số nghị sĩ quốc hội không dám công khai ủng hộ dự luật do các nhà ngân hàng tham gia lập ra. Vì vậy, những người này không quản ngại đường xa vạn dặm, lặn lội từ New York đến hòn đảo hoang vắng này để tham gia khởi thảo văn kiện. Hơn nữa, cái tên Ngân hàng trung ương nghe có vẻ quá khoa trương. Từ thời Tổng thống Jefferson đến nay, tên gọi của Ngân hàng trung ương đều có dính dáng đến âm mưu của nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế Anh, vì thế Paul kiến nghị dùng tên “Cục dự trữ liên bang” (Federal Reserve System) để che đậy tai mắt thiên hạ. Thế nhưng, Cục dự trữ liên bang có đầy đủ mọi chức năng của một ngân hàng trung ương, và cũng giống như ngân hàng Anh, Cục dự trữ liên bang Mỹ được thiết kế theo kiểu tư nhân nắm giữ cổ phần, và ngân hàng sẽ thu được lợi ích rất lớn từ việc đó. Điều khác với ngân hàng thứ nhất và ngân hàng thứ hai là, trong cơ cấu cổ phần của Cục dự trữ liên bang Mỹ, 20% cổ phần vốn có của Chính phủ đã bị lấy mất, nó sẽ trở thành một ngân hàng trung ương tư hữu “thuần túy”.
Nhằm che đậy bản chất thực của cục dữ trữ liên bang Mỹ cũng như để trả lời cho câu hỏi ai là kẻ khống chế cơ quan này, Paul đã khéo léo đề xuất ý kiến: “Quốc hội khống chế Cục dự trữ liên bang Mỹ, Chính phủ nắm giữ vai trò đại biểu trong hội đồng quản trị, nhưng đa số thành viên của hội đồng quản trị là do hiệp hội ngân hàng trực tiếp hoặc gián tiếp khống chế.”
Về sau, trong phiên bản cuối cùng, Paul đã đổi thành “thành viên của hội đồng quản trị do tổng thống Mỹ bổ nhiệm”, thế nhưng, chức năng chân chính của hội đồng quản trị do Hội đồng tư vấn liên bang (Federal Advisory Council) khống chế, và cùng với hội đồng quản trị, Hội đồng tư vấn liên bang sẽ định kỳ mở hội nghị “thảo luận” công việc. Thành viên của ủy ban tư vấn liên bang sẽ do chủ tịch hội đồng quản trị của 12 nhà ngân hàng dự trữ liên bang quyết định. Điểm này đã được lấp liếm trước công chúng.
Một vấn đề nan giải khác mà Paul phải đối phó là làm thế nào để che giấu sự thực rằng, nhân vật chịu trách nhiệm chủ trì Cục dự trữ liên bang là một chuyên gia kỳ cựu của ngân hàng New York. Từ thế kỷ 19 đến nay, hầu hết các thương nhân, chủ trang trại vừa và nhỏ của miền trung tây nước Mỹ đã gánh chịu đủ đại nạn của khủng hoảng ngân hàng, cho nên họ ghét cay ghét đắng các chuyên gia ngân hàng đến từ miền đông, và các nghị sĩ của những khu vực này không thể ủng hộ ngân hàng trung ương nếu như nó được chủ trì bởi một nhân vật nào đó từ ngân hàng New York. Vì vậy mà Paul đã thiết kế nên một phương án giải quyết tài tình để cho 12 nhà ngân hàng địa phương của cục dự trữ liên bang Mỹ cấu thành toàn bộ hệ thống. Ngoài những người trong giới ngân hàng, rất ít người biết được rằng. về lý thuyết, việc phát hành tiền tệ và tín dụng của Mỹ được tập trung ở New York, nhưng trên thực tế, điều này không hề diễn ra ở New York, và màn kịch này chẳng qua là do các ngân hàng thuộc cục dự trữ liên bang Mỹ đã dàn dựng nên mà thôi. Còn có một chỗ thể hiện sự suy nghĩ sâu xa của Paul - đặt trụ sở của Cục dự trữ liên bang Mỹ tại Washington – trung tâm chính trị của nước Mỹ, trong khi New York mới là trung tâm tài chính lớn của đất nước này. Mối lo ngại chính của ông xuất phát từ sự kỳ thị của dân chúng đối với các nhà ngân hàng đến từ New York. Điều bận tâm thứ tư của Paul là làm thế nào tìm ra nhân viên quản lý cho 12 nhà ngân hàng địa phương trực thuộc Cục dự trữ liên bang Mỹ. Kinh nghiệm làm việc trong quốc hội của Nelson Aldrich cuối cùng đã giúp ông tìm được đất dụng võ. Ông chỉ ra rằng, các nghị sĩ miền trung tây nước Mỹ thường tỏ rõ mối thù địch với ngân hàng New York, và để tránh mất kiểm soát, tổng thống phải là người đứng ra bổ nhiệm vị trí chủ tịch ngân hàng địa phương và đó không phải là nhiệm vụ của quốc hội. Nhưng điều này đã tạo nên một lỗ hổng pháp luật. Điều 8 chương 1 của hiến pháp Mỹ quy định rõ ràng rằng, quốc hội chịu trách nhiệm phụ trách việc quản lý phát hành tiền tệ. Việc Cục dự trữ liên bang gạt Quốc hội ra ngoài rõ ràng đã vi phạm hiến pháp. Về sau, quả nhiên điểm này đã trở thành cái cớ để các nghị sĩ chĩa mũi dùi công kích Cục dự trữ liên bang Mỹ.
Sau khi được dàn xếp chu đáo, dự luật này nghiễm nhiên xuất hiện với hình thức mô phỏng theo sự phân quyền và và cân bằng kiểm soát của hiến pháp Mỹ. Tổng thống bổ nhiệm, quốc hội thẩm duyệt, nhân sĩ độc lập nhậm chức chủ tịch hội đồng quản trị, còn các nhà ngân hàng đảm nhận vị trí cố vấn, quả là một thiết kế hoàn hảo!
BẢY NHÀ TÀI PHIỆT PHỐ WALL: NHỮNG NGƯỜI ĐIỀU KHIỂN HẬU TRƯỜNG CỦA CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG
Bảy nhân vật quan trọng của phố Wall hiện tại đã khống chế đại bộ phận các ngành công nghiệp cơ bản cũng như nguồn vốn của Mỹ. Trong đó, JP Morgan, James J. Hill , George Berk (Chủ tịch First National Bank) trực thuộc Tập đoàn Morgan; bốn người còn lại gồm John Rockefeller, William Rockefeller, James Stillman (Chủ tịch National City Bank), Jacob Schiff (công ty Kuhn Loeb) trực thuộc Tập đoàn Standard Oil Cities Bank. Đầu mối trung tâm về vốn do họ tạo nên đang trở thành thế lực chủ yếu khống chế nước Mỹ. [2]
John Moody - người sáng lập hệ thống đánh giá đầu tư Moody nổi tiếng, 1911
Bảy vị tai to mặt lớn của phố Wall chính là những người thực sự điều khiển việc thành lập Cục dự trữ liên bang Mỹ. Sự phối hợp nhịp nhàng bí mật giữa họ với dòng họ Rothschild của châu Âu cuối cùng đã lập lên một phiên bản của ngân hàng Anh quốc tại Mỹ.
SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA DÒNG HỌ MORGAN
Tiền thân của ngân hàng là công ty George Peabody Company của Anh không được nhiều người biết đến. George Peabody vốn là một nhà buôn hoa quả sấy khô của vùng Baltimore (Mỹ). Sau khi phất lên nhờ một số thương vụ nhỏ, vào năm 1835, George đến London. Chàng thương gia trẻ nhận thấy ngành tài chính là một lĩnh vực béo bở, bèn quyềt định hùn vốn với một số người nữa để mở ngân hàng Merchant Bank. Đây là một nghiệp vụ “tài chính cao cấp” rất hợp thời khi đó, khách hàng chủ yếu bao gồm Chính phủ, các công ty lớn và những người rất giàu có. Họ cung cấp các khoản vay cho thương mại quốc tế, phát hành cổ phiếu và công trái, kinh doanh các loại hàng hóa chủ lực, và đây chính là tiền thân của ngân hàng đầu tư ngày nay.
Thông qua sự giới thiệu của công ty anh em nhà Brown thuộc chi nhánh Anh, George Peabody đã nhanh chóng gia nhập vào giới tài chính Anh quốc. Không lâu sau, George Peabody hết sức kinh ngạc khi nhận được thư mời đến dự tiệc từ nam tước Nathan Rothschild. Đối với chàng thương gia trẻ này thì vinh hạnh đó chẳng khác nào niềm hãnh diện của một tín đồ thiên chúa giáo được giáo hàng tiếp kiến.
Nathan đã đi thẳng vào vấn đề bằng việc đề nghị George Peabody giúp mìnhlàm đại diện giao tế bí mật của dòng họ Rothschild. Tuy nổi tiếng là giàu có với khới tài sản khổng lồ, song dòng họ Rothschild vẫn bị nhiều người ở châu Âu căm ghét và coi thường vì thường lừa gạt cưỡng đoạt tài sản của dân chúng. Tầng lớp quý tộc ở London vốn không thèm đứng chung cùng hàng ngũ với Nathan, đã năm lần bảy lượt thẳng thừng từ chối lời mời của Nathan. Dù đã tạo ra thế lực rất mạnh ở Anh quốc, nhưng dòng họ nhà Rothschild luôn có cảm giác của kẻ ngồi “chiếu dưới” vì bị giới quý tộc cô lập. Một nguyên nhân khác khiến Nathan chọn George Peabody vì ông ta là người khiêm tốn nhã nhặn, tư cách khá tốt, lại là người Mỹ, sau này còn có thể dùng vào việc lớn.
|
|
|
(Đang đi) "Ôi giá lên ôi giá lên" (Vấp phải hòn đá) "Ôi ngón chân, ôi ngón chân"
|
Số vàng tặng cho bài viết này (cho điểm) : 20 Lượng
|
|